Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 187/2024/HS-ST

Ngày 28/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Bình.

Bà Nghiêm Thị Hiền.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Quân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu P xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 194/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HS ngày 15/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nông Văn C, sinh năm 1996;

    Nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn L, sinh năm 1975 và bà Phan Thị N, sinh năm 1975; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không.

    Tiền án:

    • + Tại Bản án số 06/HSST ngày 29/6/2015, của Tòa án nhân dân huyện Quảng Uyên (nay là huyện Q), tỉnh Cao Bằng, xử phạt C 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 09/9/2015, C chấp hành xong hình phạt tù và án phí. Cần chưa chấp hành khoản bồi thường 1.800.000 đồng.
    • + Tại Bản án số 07/HSST ngày 22/5/2017, của Tòa án nhân dân huyện Quảng Uyên (nay là huyện Q), tỉnh Cao Bằng, xử phạt C 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 10/2/2019, C chấp hành xong hình phạt tù và án phí. Cần chưa chấp hành khoản bồi thường 6.050.000 đồng.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

  2. Hoàng Văn Q, sinh năm 1992;

    Nơi cư trú: Bản V, xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Q1, sinh năm 1972 và bà Vi Thị H, sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Ma Thị M, sinh năm 1995 và 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 06/11/2023, Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; hình thức Cảnh cáo.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Đức Đ, cán bộ Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Ông Trần Văn Đ1, cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

(Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 20/6/2024, tại bãi đất trống thuộc thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, lực lượng Công an Phòng PC04 - Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã L, huyện Y kiểm tra, bắt quả tang Nông Văn C, sinh năm 1996, trú tại Xóm L, xã N, huyện Q, tỉnh Cao Bằng bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Văn Q, sinh năm 1992, trú tại Bản V, xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng.

Vật chứng thu giữ:

  • - Tại túi quần phía trước bên phải của Q 01 (một) gói bọc ngoài bằng giấy màu trắng bên trong có chất bột màu trắng, Q khai nhận là ma túy H1 vừa mua được của Cần, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1.
  • - Tại nền đất cạnh vị trí C đang ngồi: 01 túi nilon màu đen, mở ra bên trong có 04 gói nhỏ đều bọc ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng, C khai nhận là ma túy H2 cất giấu để bán, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2; 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng, C khai là tiền vừa bán ma túy cho Q mà có, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M3.

Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và bàn giao C, Q cùng vật chứng, tài liệu đến Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Công an huyện Y, tổ công tác đã tiến hành test thử ma túy trong nước tiểu của C và Q, kết quả đều dương tính với chất Heroine.

Tại Kết luận giám định số 1513/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • “ - Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1193 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H).
  • - Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,1691 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H)”.

Heroine có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tổng khối lượng ma túy Heroine là 0,2884 gam.

Tại Bản Cáo trạng số 189/CT-VKS-YP ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Nông Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo C đã khai nhận: bị cáo là người sử dụng ma túy và mới đến địa bàn huyện Y để tìm việc làm. Trong thời gian tìm việc tại Khu công nghiệp H, bị cáo quen biết 01 nam thanh niên khoảng 30 tuổi (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) bán ma túy. Nam thanh niên nói với bị cáo nếu đưa người mua ma túy đến mua ma túy của nam thanh niên này tại khu vực bụi chuối ở bãi đất trống thôn N, xã L, huyện Y thì sẽ trả công bị cáo bằng ma túy để sử dụng. Bị cáo đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 20/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Hoàng Văn Q đi bộ một mình đến khu vực thôn N, xã L để tìm mua ma túy. Khi đến một quán nước ở thôn N thì Q gặp bị cáo. Tại đây, Q hỏi bị cáo nơi mua ma túy để sử dụng. Bị cáo dẫn Q đi bộ đến bãi đất trống cách quán nước khoảng 200m gặp nam thanh niên bán ma túy. Khi đến nơi, cả hai gặp nam thanh niên. Khi biết Q có nhu cầu mua ma túy thì nam thanh niên này đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu đen, bên trong đựng nhiều gói giấy màu trắng rồi bỏ đi. Lúc này, bị cáo cầm và mở túi nilon màu đen lấy ra 02 (hai) gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy heroine và đưa cho Q 01 gói, còn 01 gói bị cáo sử dụng luôn bằng hình thức chích vào cơ thể. Q cầm gói ma túy và đưa lại cho C 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đồng. Bị cáo cầm tiền và cất vào túi nilon màu trắng đựng bơm kim tiêm đã sử dụng trước đó. Khi Q đang chuẩn bị sử dụng gói ma túy vừa mua được của bị cáo thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt quả tang.

Bị cáo Q khai nhận: Lời khai của bị cáo C là đúng, bị cáo đã mua của C 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy heroine và đưa lại cho C 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Nông Văn C từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/6/2024.

Áp dụng khoản điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự xử phạt: Hoàng Văn Q từ 14 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo C, Q.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy ma tuý còn lại sau giám định và bơm tiêm sử dụng một lần có đầu đã bị xé rách.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng của bị cáo C.

Lưu hồ sơ đĩa 02 đĩa DVD hỏi cung bị cáo C, bị cáo Q.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:

    Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa,

    các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 20/6/2024, tại bãi đất thuộc địa phận thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Nông Văn C đã có hành vi bán 01 gói Heroine có khối lượng 0,1193 gam cho Hoàng Văn Q với giá 200.000 đồng; Còn lại 04 gói Heroine có khối lượng 0,1691 gam, C cất giấu ở người nhằm mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng Heroine mà Nông Văn C bán và tàng trữ để bán là 0,2884 gam. Hoàng Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,1193 gam ma túy heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.

    Hành vi của bị cáo Nông Văn C bán trái phép cho bị cáo Hoàng Văn Q để kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Do bị cáo C có hai tiền án:

    • + Tại Bản án số 06/HSST ngày 29/6/2015, của Tòa án nhân dân huyện Quảng Uyên (nay là huyện Q), tỉnh Cao Bằng, xử phạt C1 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 09/9/2015, C chấp hành xong hình phạt tù và án phí. Cần chưa chấp hành khoản bồi thường 1.800.000 đồng.
    • + Tại Bản án số 07/HSST ngày 22/5/2017, của Tòa án nhân dân huyện Quảng Uyên (nay là huyện Q), tỉnh Cao Bằng, xử phạt C1 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 10/2/2019, C chấp hành xong hình phạt tù và án phí. Cần chưa chấp hành khoản bồi thường 6.050.000 đồng.

    Hai bản án trên, bị cáo chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội mới do cố ý. Do vậy lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

    Hành vi của bị cáo Hoàng Văn Q mua chất ma túy để sử dụng cho bản thân đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo

    là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra ma túy là chất gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bản thân các bị cáo cũng hiểu biết về tác hại của ma túy cũng như những quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với tất cả các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn vi phạm, vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

  4. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

    Bị cáo C có nhân thân tốt; Bị cáo Q có nhân thân xấu, ngày 06/11/2023, Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với hình thức Cảnh cáo.

    Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

    Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

    Về xử lý vật chứng:

    Ma tuý còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm, bơm tiêm sử dụng một lần có đầu đã bị xé rách không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

    Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do C phạm tội mà có, vì vậy tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

    Lưu hồ sơ 02 đĩa DVD hỏi cung bị cáo C, bị cáo Q.

  5. Những vấn đề khác:

    Trong vụ án này, người đàn ông đã bán ma túy cho C nhưng C không biết tên, tuổi cũng như địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

    Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C và Q. Ngày 16/9/2024 Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C và Q với hình thức xử phạt Cảnh cáo là phù hợp.

  6. Về án phí:

    Các bị cáo C và Q là người dân tộc thiểu số, bị cáo C thuộc hộ nghèo, bị cáo Q sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, vì vậy miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo C và Q.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
    Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
    Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nông Văn C 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024.
    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024.
    Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam các bị cáo Nông Văn C và Hoàng Văn Q mỗi bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (28/10/2024) để đảm bảo thi hành án.
  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín, bên trong chứa vỏ đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,0939gam chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 và 0,1479gam chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2; 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong chứa 01 vỏ túi đựng bơm tiêm sử dụng một lần có đầu đã bị xé rách.
    Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng.
    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong và biên bản giao nhận tài sản ngày 30/8/2024 tại Kho bạc nhà nước huyện Y.
    Lưu hồ sơ 02 đĩa DVD hỏi cung các bị cáo Nông Văn C, Hoàng Văn Q.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Nông Văn C và Hoàng Văn Q.
    Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện Yên Phong;
  • - Công an huyện Yên Phong;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Văn Bình

Vũ Thu Trang

Nghiêm Thị Hiền

Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 187/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger