Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2024/HS-ST

Ngày: 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lã Văn Luật
  2. Bà Nông Thị Duyên

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 173/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ tên: Hoàng Văn Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 05 tháng 5 năm 1980 tại: huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Số CCCD: [...] cấp ngày 19 tháng 8 năm 2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Hoàng Văn H - sinh năm: 1942 (Trú tại: thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa); Họ tên mẹ: Ngọ Thị É (Đã chết); A, chị, em ruột: bị cáo là con thứ 04 trong gia đình có 05 chị em; Vợ: Nguyễn Thị H1 - Sinh năm 1979 (Trú tại: thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa); Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa từ ngày 12/8/2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Công ty cổ phần M (tên đăng ký cũ là Công ty cổ phần Đ1)

Địa chỉ: số B đường B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

1

Người đại diện theo pháp luật: bà Trần Ngọc T; chức vụ: Giám đốc; vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/7/2024, Công an xã C, thành phố C tiếp nhận đơn trình báo của Trương Văn C (sinh ngày: 24/11/1985; tạm trú tại: xóm E, xã C, thành phố C) là Chỉ huy trưởng ban dự án khai thác khoáng sản lộ thiên Niken - Đồng tại xã C, thành phố C thuộc Công ty Cổ phần Đ1 (nay là Công ty cổ phần M) về việc sáng ngày 14/7/2024, Công ty Đ1 phát hiện bị mất trộm 01 (một) chiếc máy đo toàn đạc điện tử. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định hiện trường tại phòng có ký hiệu "ROOM 6" của dãy nhà sinh hoạt và điều hành của Công ty Đ1, tạm giữ 01 (một) hộp nhựa màu vàng có kích thước 40x20x32cm. Quá trình xác minh ban đầu xác định Hoàng Văn Đ (sinh ngày: 05/5/1980; trú tại: thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) là nhân viên của Công ty Đ1 đã lấy trộm chiếc máy đo trên, tạm giữ của Đ 01 (một) máy đo toàn đạc điện tử Topcon GM50 series 1Y001427, máy cũ đã qua sử dụng.

Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra yêu cầu định giá tài sản số 1336 xác định giá trị tài sản bị trộm cắp. Tại bản kết luận định giá tài sản số 51 ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Giá trị tài sản là 37.067.666 đồng (ba mươi bảy triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Quá trình điều tra xác định: Khoảng cuối tháng 5/2024, Hoàng Văn Đ đến làm việc tại Ban D tại xã C, thành phố C thuộc Công ty Đ1 có địa chỉ tại xóm E, xã C, thành phố C. Đến cuối tháng 6/2024, Đ xin nghỉ việc để về quê tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 10h45' ngày 30/6/2024 Đ đi qua phòng ở số 6 của ban quản lý, thấy cửa phòng mở và có nhiều đồ dùng, thiết bị để trong góc phòng, trong đó có 01 chiếc hộp nhựa màu cam. Đến khoảng 13h cùng ngày, Đ quay lại phòng số 6 để kiểm tra chiếc hộp màu cam trên vì nghĩ trong hộp sẽ là đồ vật có giá trị cao. Sau khi mở hộp ra, Đ phát hiện có 01 (một) chiếc máy đo toàn đạc màu vàng xám đen nên nảy sinh ý định lấy trộm chiếc máy đó. Đ lấy 01 chiếc vỏ gối có sẵn ở trên giường trong phòng và cho chiếc máy toàn đạc vào trong vỏ gối rồi để ở góc phòng. Sau đó khoảng 10 phút, xe ô tô (Đình đặt từ trước) đến đón, Đ lấy đồ đạc cá nhân và mang theo chiếc máy đo toàn đạc lên xe và đi về nhà tại thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi về nhà, do chưa tìm được chỗ bán nên Đ để chiếc máy ở nhà và đi vào Đắk Lắk làm thuê. Đến ngày 14/7/2024, nhân viên của Công ty Đ1 đi làm không tìm thấy máy đo toàn đạc nên đã báo với Trương Văn C và cùng ngày Trương Văn C đã trình báo cơ quan Công an. Sau khi trình báo với cơ quan công an, nghi ngờ Hoàng Văn Đ là người đã lấy trộm máy nên C liên lạc với Đ hỏi về sự

2

việc thì Đ thừa nhận hành vi của bản thân và đã mang chiếc máy toàn đạc tới Cao Bằng giao nộp.

Xét thấy không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án, ngày 28/8/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty Đ1 (một) máy đo toàn đạc điện tử Topcon GM50 series 1Y001427 và 01 (một) hộp nhựa màu vàng có kích thước 40x20x32cm.

Hành vi của Hoàng Văn Đ đã bị cơ quan công an lập hồ sơ, đề nghị truy cứu tránh nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản Cáo trạng số 173/CT-VKSTP ngày 07/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với kết luận định giá tài sản số 51 ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản. Bị cáo khai do nợ nần nhiều nên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với mục đích bán kiếm tiền trả nợ.

Về tài sản bị tạm giữ: Quá trình điều tra bị cáo bị thu giữ 01 chiếc điện thoại Iphone và đã được cơ quan điều tra trả lại, bị cáo không có ý kiến gì thêm.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xác nhận đã được trả lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Về hình phạt: ngày 27/8/2024 người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra việc xem xét giải quyết do bị hại không yêu cầu.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm đển sung công quỹ nhà nước.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

3

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để xác định:

Khoảng 13h ngày 30/6/2024, tại phòng số 6 dãy nhà sinh hoạt và điều hành của Ban dự án khai thác khoáng sản lộ thiên Niken-Đồng thuộc Công ty Đ1 có địa chỉ tại xóm E, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Hoàng Văn Đ – là nhân viên của Công ty Đ1 đã có hành vi lấy trộm 01 (một) máy đo toàn đạc điện tử Topcon GM50 series 1Y001427 trị giá 37.067.666,đ (ba mươi bảy triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) của Công ty Đ1 với mục đích đem đi bán lấy tiền trả nợ.

Hành vi của bị cáo Hoàng Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và được người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị cáo trộm cắp đã được trả lại cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4

[5] Về hình phạt chính:

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 2 Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, xét thấy bị không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Xét thấy không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án, ngày 12/8/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Đ 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone X màu trắng và ngày 28/8/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty Đ1 (một) máy đo toàn đạc điện tử Topcon GM50 series 1Y001427, 01 (một) hộp nhựa màu vàng có kích thước 40x20x32cm là đúng quy định.

[8] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Đ 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/11/2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Đinh Thị Hoài Phương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 187/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Đ - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger