TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/HS-ST
Ngày 13-12-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Chương.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Bá Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 183/2024/TLST-HS ngày 21/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024 đối với bị cáo:
Lương Văn N, sinh năm 1975 tại Cao Bằng; nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở: Thôn 2C, xã B, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 03/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T (đã chết) và bà Hoàng Thị L; có vợ là Hoàng Thị K, sinh năm 1984 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2006; tiền án: Ngày 12/05/2023, Toà án nhân dân huyện Ea H' Leo, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2024; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/05/2001, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 05 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 08/01/2009, Chủ tịch UBND huyện Ea H' Leo, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng. Ngày 26/10/2017, Toà án nhân dân huyện Ea H' Leo, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng. Ngày 01/8/2019, Toà án nhân dân huyện Ea H' Leo, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 22 tháng; bị bắt, tạm giữ ngày 29/6/2024, tạm giam từ ngày 05/7/2024 đến nay; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Tình - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Ngô Mạnh H, sinh năm 1983; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 29/6/2024, Lương Văn N đi bộ từ nơi ở ra đường quốc lộ rồi thuê xe ôm đi đến thành phố Phủ Lý, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến đường Lê Duẩn thuộc tổ dân phố Mễ Nội, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý, N gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, trong lúc nói chuyện, N hỏi người đàn ông: “Anh có để cho em quả hàng một trăm?”, hiểu ý N hỏi mua ma túy, người này nói: “Tiền đâu, đưa đây”. N lấy ra 100.000đồng đưa cho người này, người đàn ông cầm tiền nói: “Đứng đây đợi tao đi lấy hàng” rồi điều khiển xe môtô (không rõ biển kiểm soát) bỏ đi đâu đó. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho N 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và nói: “Hàng ở trong đó” rồi điều khiển xe môtô bỏ đi. Biết trong vỏ bao thuốc lá người đàn ông đưa cho có ma túy nên N cầm lấy giữ trong lòng bàn tay phải rồi đi tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý kiểm tra hành chính, phát hiện cất giấu chất ma túy nên đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 căn cước công dân mang tên Lương Văn N và 01 ví giả da màu nâu.
Tại bản Kết luận giám định số 489/KL-KTHS ngày 04/7/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,242 gam, loại Heroine”.
Bản Cáo trạng số 189/CT-VKS-PL ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Lương Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Lương Văn N, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Hình phạt chính: Xử phạt Lương Văn N từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo là người dân tộc thiểu số phạm tội (dân tộc Tày), thuộc đối tượng hộ nghèo, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; trình độ văn hóa thấp nên hiểu biết pháp luật hạn chế; sau khi phạm tội đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nên thành khẩn khai báo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Bị cáo Lương Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa gồm biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng, lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 29/6/2024, tại khu vực đường Lê Duẩn thuộc tổ dân phố Mễ Nội, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý, Lương Văn N bị lực lượng Công an phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,242 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu do đã bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; bản thân đã từng bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” và nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có thời hạn (đã được xóa án tích và hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng là : “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện; bản thân là người dân tộc thiểu số phạm tội (dân tộc Tày); gia đình thuộc hộ nghèo, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo là người đã bị kết án nhiều lần về tội phạm xâm phạm quyền sở hữu, bản thân đã từng nhiều lần bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi vi phạm liên quan đến ma túy nhưng đã không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, tu dưỡng bản thân, sống có ích mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
5.2. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền, tịch thu tài sản...) đối với bị cáo.
[6] Về quan điểm bào chữa cho bị cáo của người bào chữa tại phiên tòa: Xét thấy nội dung bào chữa là có căn cứ và thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[7] Về tình tiết khác của vụ án: Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi gặp ở khu vực đường Lê Duẩn thuộc tổ dân phố Mễ Nội, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo để cất giấu và sử dụng, do quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh để làm rõ nhưng không xác định được đặc điểm nhân thân, lai lịch của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xem xét, xử lý là có căn cứ.
[8] Về vật chứng và xử lý vật chứng đã thu giữ:
8.1. Đối với 01 căn cước công dân và 01 ví giả da màu nâu là giấy tờ, tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
8.2. Đối với toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá là vật Nhà nước quy định cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 53, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 29/6/2024.
2. Xử lý vật chứng:
2.1. Trả lại cho bị cáo Lương Văn N 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu (bên trong không có tài sản, đồ vật gì).
2.2. Giao cho Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền tạm giữ và trả lại cho bị cáo Lương Văn N sau khi chấp hành xong án phạt tù 01 (một) thẻ căn cước công dân số: [...], mang tên Lương Văn N.
2.3. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong số 489/KTHS, mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau phong bì có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam và 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Tình trạng, đặc điêm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 22/11/2024.
3. Án phí: Bị cáo Lương Văn N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |
Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 187/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
