|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/HS-ST
Ngày: 30/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hiền, ông Lê Quang Hùng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 30/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2024/TLST-HS ngày 01/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2024/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Văn Q, sinh năm 1988, tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH T2. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn M và bà Đào Thị K; có vợ Phạm Thị N và 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền sự, Tiền án: không; Nhân thân: Ngày 27/6/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Hoàng Cảnh T, sinh năm 1981. Địa chỉ: khối B, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Anh Trần Văn H, sinh năm 1981. Địa chỉ: số A, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Phạm Văn S, sinh năm 1994. Địa chỉ: xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1989. Địa chỉ: xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Chị Phạm Thị N, sinh năm 1989. Địa chỉ: xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Ông Lưu Văn M, sinh năm 1958. Địa chỉ: xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
- + Chị Trần Thị T1, sinh năm 1986. Địa chỉ: khối A, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Duy B, sinh năm 1978. Địa chỉ: xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Chị Hoàng Thị N1, sinh năm 1981. Địa chỉ: số nhà B, đường số F, khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Bích H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Pháp lý của Công ty TNHH TMDV xăng dầu Quang Minh
Doanh nghiệp tư nhân Quang Minh được thành lập ngày 17/01/2005, mã số doanh nghiệp: 2900616927; Địa chỉ doanh nghiệp: Xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Đến ngày 01/9/2020, Doanh nghiệp tư nhân T2 chuyển đổi thành Công ty TNHH T2 (gồm hai thành viên). Ngày 13/01/2021, Công ty TNHH T2 (sau đây gọi tắt là Công ty T2) thay đổi lần thứ 3 từ hai thành viên chuyển thành 01 thành viên.
Người đại diện trước pháp luật: Từ khi thành lập đến ngày 01/9/2020 là ông Lưu Văn M (sinh năm 1958, trú xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) là chủ doanh nghiệp. Từ ngày 01/9/2020 đến nay, bị cáo Lưu Văn Q (con trai ông Lưu Văn M) làm Giám đốc Công ty.
Công ty T2 kê khai thuế GTGT bằng phương pháp khấu trừ thuế, kê khai nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực Sông L.
2. Vai trò của Lưu Văn Q tại Công ty TNHH T2.
Khoảng cuối năm 2019, ông Lưu Văn M (là chủ doanh nghiệp tư nhân T2) tuổi cao, sức yếu nên đã giao cho con trai là Lưu Văn Q, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH T2. Lưu Văn Q tiếp nhận cơ sở vật chất, tổ chức nhân sự và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH T2 từ cuối năm 2019 đến nay, cụ thể như sau:
- Bố trí kế toán trưởng: Bà Phạm Thị N (sinh ngày 21/01/1989, trú xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) làm kế toán trưởng. Nhiệm vụ của bà Phạm Thị N: đăng ký chữ ký kế toán trưởng để giao dịch thanh toán qua tài khoản của Công ty TNHH T2 mở tại ngân hàng; Lập hoá đơn GTGT hàng hoá dịch vụ bán ra; tổng hợp hoá đơn hàng hoá dịch vụ mua vào, bán ra để kê khai thuế GTGT định kỳ (Q2); căn cứ hoá đơn, chứng từ để lập chứng từ kế toán, cuối năm tổng hợp chứng từ để lập sổ kế toán, báo cáo quyết toán thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN).
- Thủ quỹ: Lưu Văn Q trực tiếp làm thủ quỹ để chi trả lương, chi phí bằng tiền mặt, nộp tiền vào tài khoản của Công ty TNHH T2 ở ngân hàng.
- Nhân viên bán xăng, dầu: Nguyễn Duy B (sinh năm 1978, trú xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An). Nhiệm vụ của Nguyễn Duy B: hàng ngày, Nguyễn Duy B bán hàng tại cửa hàng X (xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An); trực tiếp thu tiền, khi khách hàng lấy hoá đơn, Nguyễn Duy B điện thoại cho kế toán trưởng lập hoá đơn, giao khách hàng. Cuối ngày, Nguyễn Duy B đối chiếu số liệu xăng, dầu bán ra qua các cột bơm với Lưu Văn Q, tổng hợp doanh thu bán hàng, số tiền thu được và nộp toàn bộ số tiền cho Lưu Văn Q.
- Nhân viên lái xe: Công ty TNHH T2 sở hữu 03 xe ô tô chuyên dụng vận chuyển xăng dầu gồm: xe ô tô BKS: 37R- 036.53; BKS: 37H- 031.42; BKS: 37H- 031.37. Nhân viên lái xe gồm: Phạm Văn S (sinh năm 1994, trú xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) và Nguyễn Văn Q1 (sinh năm 1989, trú xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An). Nhiệm vụ của lái xe: Trực tiếp điều khiển các xe ô tô của công ty theo chỉ đạo của Lưu Văn Q để chở xăng, dầu về cho Công ty TNHH T2 và bàn giao cho Lưu Văn Q.
3. Hoạt động của Công ty TNHH T2:
Công ty T2 sở hữu 02 cửa hàng xăng dầu đều do Công ty X1 (MST: 2900326304, địa chỉ: số D, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An) là thương nhân cung cấp xăng dầu, Lưu Văn Q điều hành việc mua bán xăng, dầu, thanh toán và đối chiếu công nợ với khách hàng theo hợp đồng đã được ký kết, cụ thể:
Cửa hàng xăng dầu Quang M1 tại xóm F (trước đây là xóm A), xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An: Lưu Văn Q trực tiếp bán hàng hàng ngày, khi bận Lưu Văn Q nhờ bố là ông Lưu Văn M giúp đỡ việc bán hàng. Khi có khách hàng mua hàng lấy hoá đơn, Lưu Văn Q điện thoại cho kế toán Phạm Thị N xuất hoá đơn.
Cửa hàng X tại xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An: người bán hàng là anh Nguyễn Duy B vẫn bán hàng từ trước đến nay. Lưu Văn Q quản lý chìa khoá bồn chứa xăng, dầu để chủ động mua và nhập kho xăng, dầu; quản lý việc bán hàng của Nguyễn Duy B thông qua số lượng xăng, dầu bán ra được thể hiện trên máy bơm xăng, dầu tại Cửa hàng.
Cuối ngày, Lưu Văn Q tổng hợp doanh thu bán hàng của hai cửa hàng xăng dầu; số lượng khách hàng đã lập hoá đơn GTGT, số lượng bán lẻ khách hàng không lấy hoá đơn và cung cấp số liệu để kế toán Phạm Thị N lập hoá đơn GTGT đối với xăng, dầu bán lẻ. Đối với xăng, dầu được mua của Công ty cổ phần P và Công ty TNHH T3, Lưu Văn Q không cung cấp số liệu mua vào, bán ra cho kế toán Phạm Thị N hạch toán, lập hoá đơn GTGT, kê khai nộp thuế.
4. Hành vi mua xăng, dầu của Công ty cổ phần P không có hoá đơn, chứng từ.
Khoảng đầu năm 2020, Lưu Văn Q đang điều hành Doanh nghiệp tư nhân T2 mua xăng, dầu của thương nhân đầu mối Công ty X1 để kinh doanh thì có một nhân viên nữ (không biết tên, tuổi, giới thiệu là nhân viên của Công ty cổ phần P) đến gặp Lưu Văn Q đặt vấn đề Công ty cổ phần P bán xăng, dầu cho Doanh nghiệp tư nhân T2. Qua trao đổi, Lưu Văn Q biết được Công ty cổ phần P có bán xăng, dầu không có hoá đơn (tức bên bán không lập hoá đơn khi bán hàng) với giá thấp hơn giá xăng, dầu bán có lập hoá đơn. Do đó, Lưu Văn Q đồng ý mua xăng, dầu (bên bán không lập hóa đơn) của Công ty cổ phần P để kinh doanh.
Lưu Văn Q điện thoại vào số máy 0961.895.xxx của Hoàng Thị N1 (sinh năm 1981, chỗ ở hiện nay: Số nhà B đường số F khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An, là nhân viên của Công ty CP P) để đặt hàng mua xăng, dầu. Hoàng Thị N1 thông báo cho Lưu Văn Q biết giá xăng, dầu Công ty cổ phần P bán gồm: giá bán có VAT (khách hàng có lấy hoá đơn VAT) và giá bán không có VAT (khách hàng không lấy hoá đơn VAT). Lưu Văn Q đồng ý mua xăng, dầu không có hóa đơn VAT và đặt số lượng, thời gian nhận hàng, phương tiện đến nhận hàng. Hoàng Thị N1 yêu cầu Lưu Văn Q thanh toán vào một trong các tài khoản ngân hàng, chủ tài khoản là cá nhân Nguyễn Thị Bích H1 (sinh năm 1978, trú xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) gồm: tài khoản số 51010001550125 mở tại ngân hàng Đ, Chi nhánh N4; tài khoản số 0101001227750 mở tại Ngân hàng V1, Chi nhánh N4; tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V2, Chi nhánh N4. Lưu Văn Q thanh toán tiền mua xăng dầu từ tài khoản cá nhân mở tại ngân hàng N5 (A, số tài khoản 3603205194060), Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B1, số tài khoản 105872157625) vào tài khoản Nguyễn Thị Bích H1. Sau đó, Lưu Văn Q trực tiếp điều khiển hoặc giao anh Phạm Văn S (nhân viên lái xe Công ty T2) điều khiển một trong các xe ô tô vận tải của Công ty T2 đến kho của Công ty cổ phần P tại xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh để nhận xăng, dầu. Quá trình nhận xăng, dầu, Công ty cổ phần P lập phiếu xuất kho thể hiện Công ty cổ phần P bán xăng, dầu cho Công ty TNHH T2. Lái xe nhận xăng, dầu về giao phiếu xuất kho cho Lưu Văn Q. Vì để kinh doanh trốn thuế nên Lưu Văn Q không chỉ đạo kế toán hạch toán việc mua hàng, hạch toán việc thanh toán tiền hàng nên các phiếu xuất kho Lưu Văn Q không lưu giữ.
Từ ngày 17/02/2020 đến ngày 21/01/2021, Lưu Văn Q đã mua xăng, dầu của Công ty cổ phần P (không có hóa đơn VAT) 86.627 lít xăng A95 và 54.234 lít dầu Diesel, tổng tiền 1.602.831.700 đồng.
Lưu Văn Q đã thanh toán cho Công ty cổ phần P 1.605.833.000 đồng. Chênh lệch số tiền 1.605.833.000 đồng - 1.602.831.700 đồng = 3.001.300 đồng do thanh toán thừa.
Lưu Văn Q không nhập xăng, dầu vào kho cửa hàng xăng, dầu của Công ty TNHH T2 mà Lưu Văn Q trực tiếp hoặc giao cho các lái xe bán xăng, dầu cho khách hàng tại các huyện Đ, T, A, Con C để sử dụng hoạt động ngoài đồng ruộng như máy cày, máy xúc... theo giá thị trường tại thời điểm bán. Tổng số tiền đã bán được là 1.853.262.598 đồng.
Lưu Văn Q không nói cho kế toán biết việc mua xăng, dầu của Công ty cổ phần P và việc bán xăng, dầu vì không có hoá đơn đầu vào, khách hàng mua xăng, dầu không cần hoá đơn nên kế toán không hạch toán trong sổ kế toán việc mua hàng hoá, bán hàng hoá, lập hoá đơn, kê khai và nộp thuế. Sau khi bán toàn bộ số lượng xăng dầu không có hoá đơn của Công ty Cổ phần P ra thị trường, Lưu Văn Q thu được số tiền lợi nhuận là: 250.431.258 đồng.
5. Hành vi mua xăng dầu của Công ty TNHH T3 không có hoá đơn, chứng từ:
Khoảng tháng 01/2022, Công ty cổ phần P ngừng bán xăng dầu không có hoá đơn cho Công ty TNHH T2 vì Công ty TNHH T2 không phải là đại lý. Lưu Văn Q tìm hiểu và biết được Công ty TNHH T3 có bán xăng dầu không có hoá đơn (tức bên bán không lập hoá đơn khi bán hàng) với giá thấp hơn giá có hoá đơn. Để mua xăng kinh doanh mục đích trốn thuế, Lưu Văn Q liên lạc với Hoàng Cảnh T (sinh năm 1981, trú khối B, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An là giám đốc của Công ty TNHH T3). Hoàng Cảnh T đồng ý bán và thống nhất thanh toán tiền mua xăng không có hoá đơn được thanh toán bằng tiền mặt.
Từ ngày 04/01/2022 đến ngày 22/3/2022, Lưu Văn Q đã mua của Công ty TNHH T3 124.250 lít xăng A95, tổng tiền là 2.764.260.400 đồng không có hoá đơn (bên bán không lập hoá đơn GTGT) để kinh doanh trốn thuế, kiếm lời. Từng đợt mua xăng A95, Lưu Văn Q trực tiếp điều khiển hoặc giao anh Phạm Văn S hoặc anh Nguyễn Văn Q1 điều khiển một trong các xe ô tô vận tải của Công ty TNHH T2 đến kho xăng dầu của Công ty TNHH T3 (khối C, phường N, thị xã C) để nhận hàng. Khi đến nhận hàng, chị Trần Thị T1 (sinh năm 1986, trú khối A, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An) là nhân viên Công ty TNHH T3 lập phiếu xuất kho thể hiện Công ty TNHH T3 xuất bán xăng A95 cho Công ty TNHH T2. Các phiếu xuất kho, Lưu Văn Q được giao 01 liên nhưng do kinh doanh xăng A95 không có hoá đơn nên Lưu Văn Q không làm thủ tục nhập kho, không hạch toán trong sổ kế toán việc mua hàng, việc thanh toán tiền mua hàng nên Lưu Văn Q không lưu giữ các phiếu xuất kho của Công ty TNHH T3.
Toàn bộ xăng A95 mua của Công ty TNHH T3 đã được Lưu Văn Q bán hết trong ngày hoặc sau đó 01 ngày cho khách hàng có nhu cầu mua xăng không có hoá đơn với giá cao hơn 300 đồng/01 lít xăng A95 so với giá mua của Công ty TNHH T3. Do không có sổ ghi chép để theo dõi số lượng xăng A95 được mua không có hoá đơn của của Công ty TNHH T3, không ghi chép việc bán hàng và thu tiền bán hàng, không hạch toán, không lập hoá đơn giá trị gia tăng khi bán hàng nên hiện nay, Lưu Văn Q không biết họ tên, địa chỉ khách hàng mua xăng A95 không có hóa đơn.
Số lượng xăng mua của Công ty TNHH T3, Lưu Văn Q đã bán ra được tổng số tiền 2.801.535.400 đồng. Tiền lợi nhuận thu được là: 37.275.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định về thuế ngày 15/4/2024 của Cục thuế tỉnh N kết luận: Số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020, 2021, 2022 là: 177.783.089 đồng (Một trăm bảy mươi bảy triệu, bảy trăm tám ba nghìn, không trăm tám chín đồng), trong đó thuế GTGT là: 164.959.928 đồng, thuế TNDN: 12.823.161 đồng.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng:
- - Các tài liệu (bản gốc) của Công ty TNHH T2 gồm: Giấy phép xây dựng; Hợp đồng mua bán xe ô tô; các giấy tờ, tài liệu liên quan đến hồ sơ pháp lý của Công ty và hoạt động kinh doanh bình thường (kinh doanh xăng, dầu có hóa đơn và kê khai nộp thuế). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại cho Công ty TNHH T2 để lưu giữ theo quy định của pháp luật.
- - Các tài liệu có liên quan là phiếu xuất kho, Hợp đồng mua bán xăng dầu giữa Công ty cổ phần P và Công ty TNHH T2, sổ sách kế toán được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 171/CT/VKS–P3 ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Lưu Văn Q về tội “Trốn thuế” theo khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 200, điểm b, s, i khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Văn Q từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng về tội “Trốn thuế”.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 180.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp vào Tài khoản tạm giữ Sở T4.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố. Lời lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ căn cứ kết luận:
Doanh nghiệp tư nhân T2 được thành lập ngày 17/01/2005. Đến ngày 01/9/2020, Doanh nghiệp tư nhân T2 chuyển đổi thành Công ty TNHH T2. Từ khi thành lập đến ngày 01/9/2020, ông Lưu Văn M là chủ doanh nghiệp. Khoảng cuối năm 2019, ông Lưu Văn M tuổi cao, sức yếu nên đã giao cho Lưu Văn Q, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty T2. Từ ngày 01/9/2020 đến nay, bị cáo Lưu Văn Q làm Giám đốc trực tiếp điều hành mọi hoạt động của Công ty TNHH T2. Từ ngày 17/02/2020 đến ngày 21/01/2021, Lưu Văn Q đã mua xăng, dầu không có hóa đơn của Công ty cổ phần P với tổng số tiền 1.602.831.700 đồng và từ ngày 04/01/2022 đến ngày 22/3/2022, Lưu Văn Q đã mua xăng không có hoá đơn của Công ty TNHH T3 với tổng số tiền là 2.764.260.400 đồng. Toàn bộ số xăng, dầu sau khi mua bị cáo đã bán hết, thu được số tiền lợi nhuận là 287.706.258. Quá trình mua bán xăng, dầu, bị cáo không ghi chép trong sổ sách kế toán, không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa dịch vụ, không kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật. Căn cứ Kết luận giám định của Cục Thuế tỉnh N xác định Công ty TNHH T2 trốn thuế Giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tổng số tiền 177.783.089 đồng, trong đó thuế GTGT là: 164.959.928 đồng, thuế TNDN: 12.823.161 đồng. Toàn bộ số tiền trốn thuế để ngoài sổ sách kế toán và bị cáo Lưu Văn Q sử dụng vào mục đích cá nhân. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lưu Văn Q về tội “Trốn thuế” theo khoản 1 điều 200 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lưu Văn Q nhiều lần mua bán xăng, dầu trốn thuế nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; được UBND xã T tặng “Giấy khen” trong phong trào ủng hộ công đức xây dựng công trình Đền H2 năm 2024, Giấy khen đạt danh hiệu Hội nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp xã giai đoạn 2016-2020; bố đẻ của bị cáo là ông Lưu Quang M1 có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế; mẹ đẻ của bị cáo là bà Đào Thị K được Bộ trưởng Bộ G tặng “Huy chương vì sự nghiệp giáo dục”, Ban chấp hành Đảng bộ xã T tặng “Giấy khen” trong công tác xây dựng đảng năm 2023, Hội Cựu giáo chức huyện Đô lương tặng giấy khen; ông nội của bị cáo là ông Lưu Văn L có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến; bà nội của bị cáo là bà Hoàng Thị N2 được UBND tỉnh N tặng “Bằng khen” đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; ông ngoại của bị cáo là ông Đào Tất V được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến; cố nội của bị cáo là ông Lưu Văn N3 tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1929 đến năm 1936; vợ của bị cáo là bà Phạm Thị N được Chủ tịch UBND huyện Đ tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng.
[4] Xét hành vi, tính chất vụ án:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về thuế đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như làm giảm sút nguồn thu ngân sách nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự quản lý kinh tế ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi nên vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Lưu Văn Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tiền án, tiền sự, quá trình sinh sống tại địa phương chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền trốn thuế. Vì vậy, không cần thiết phải phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp: Trong quá trình điều tra, bị cáo Lưu Văn Q đã tự nguyện khắc phục và nộp toàn bộ số tiền trốn thuế là 177.783.089 đồng đồng, số tiền 2.216.911 đồng nộp thừa bị cáo không đề nghị nhận lại mà đề nghị nộp vào ngân sách Nhà nước. Do đó, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền 180.000.000 đồng bị cáo đã nộp.
[7] Về vật chứng: Các vật chứng thu giữ là tài liệu chứng minh tội phạm đã được lưu tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về các nội dung khác:
- - Đối với pháp nhân thương mại (Công ty TNHH T2): Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lưu Văn Q khai nhận việc mua bán xăng, dầu không có hóa đơn để trốn thuế là do Lưu Văn Q thực hiện, Lưu Văn Q sử dụng tiền của cá nhân để mua xăng, dầu; số tiền trốn thuế được để ngoài sổ sách kế toán và được Lưu Văn Q sử dụng vào mục đích cá nhân không vì lợi ích của Công ty TNHH T2. Do đó, hành vi trốn thuế do Lưu Văn Q thực hiện không nhân danh pháp nhân, không vì lợi ích của Công ty. Vì vậy, Công ty TNHH T2 là pháp nhân thương mại không phạm tội “Trốn thuế”.
- - Đối với bà Phạm Thị N (kế toán), ông Phạm Văn S (lái xe), ông Nguyễn Văn Q1 (lái xe), ông Nguyễn Duy B (nhân viên bán xăng, dầu) thuộc Công ty TNHH T2: Là những người được Lưu Văn Q thuê để làm việc tại Công ty TNHH T2 và được Lưu Văn Q trực tiếp chỉ đạo, điều hành và chi trả lương. Bản thân những người trên trong quá trình làm việc, không biết việc Lưu Văn Q liên hệ mua xăng, dầu không có hoá đơn của Công ty cổ phần P và Công ty TNHH T3 để kinh doanh nhằm mục đích trốn thuế. Căn cứ kết quả điều tra, không đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với Phạm Thị N, Phạm Văn S, Nguyễn Văn Q1 và Nguyễn Duy B với vai trò đồng phạm với Lưu Văn Q về hành vi trốn thuế.
- - Đối với ông Lưu Văn M (chủ doanh nghiệp tư nhân T2 (giai đoạn từ 17/01/2005 đến 01/9/2020): Bản thân ông Lưu Văn M là chủ doanh nghiệp tư nhân T2 nhưng đã bàn giao lại việc điều hành doanh nghiệp cho Lưu Văn Q thực hiện, không tham gia vào việc điều hành, kinh doanh xăng dầu từ năm 2019 đến nay. Quá trình Lưu Văn Q liên hệ mua xăng, dầu không có hoá đơn của Công ty cổ phần P và Công ty TNHH T3 để kinh doanh nhằm mục đích trốn thuế thì ông Lưu Văn M không biết và không tham gia nên ông Lưu Văn M không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án.
- - Đối với Trần Văn H (Giám đốc Công ty cổ phần P): Là người trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động của Công ty cổ phần P, đã có hành vi bán xăng, dầu không có hóa đơn cho Công ty TNHH T2. Hành vi của Trần Văn H đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử về tội “Trốn thuế” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 28/02/2024.
- - Đối với Hoàng Thị N1 (Kế toán bán hàng của Công ty cổ phần P): trong quá trình làm việc tại Công ty cổ phần P, Hoàng Thị N1 đã được Trần Văn H chỉ đạo bán xăng, dầu không có hóa đơn cho một số Doanh nghiêp, công ty trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh, trong đó có Công ty TNHH T2. Hành vi của Hoàng Thị N1 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử về tội “Trốn thuế” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 28/02/2024.
- - Đối với Nguyễn Thị Bích H1: là giáo viên, được Trần Văn H tiếp nhận vào làm việc bán thời gian cho Công ty cổ phần P. Nhiệm vụ của Nguyễn Thị Bích H1 dọn dẹp tại văn phòng, được giao một khoản tiền để mua hoa quả ngày lễ... Quá trình làm việc, Nguyễn Thị Bích H1 được Trần Văn H giao đứng tên chủ tài khoản của 04 tài khoản mở tại 04 ngân hàng nhưng Trần Văn H, Hoàng Thị N1 quản lý và sử dụng 04 tài khoản này. Trong đó, sử dụng để khách hàng thanh toán tiền mua xăng, dầu không lập hóa đơn GTGT. Nguyễn Thị Bích H1 không biết được mục đích của các giao dịch phát sinh trong tài khoản, không biết việc Công ty cổ phần P trốn thuế do không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với Nguyễn Thị Bích H1 về hành vi “Trốn thuế” đối với số xăng, dầu Công ty cổ phần P đã bán cho Công ty TNHH T2.
- - Đối với Hoàng Cảnh T (Giám đốc, Công ty TNHH T3): Là người trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động của Công ty TNHH T3, đã có hành vi bán xăng, dầu không có hóa đơn cho Công ty TNHH T2. Hành vi của Hoàng Cảnh T đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử về tội “Trốn thuế” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 05/02/2024.
- - Đối với Trần Thị T1: là nhân viên lập phiếu xuất kho Công ty TNHH T3 để thủ kho của Công ty TNHH T3 xuất bán xăng, dầu cho Lưu Văn Q. Bản thân Trần Thị T1 không biết và không tham gia vào hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH T3 với Công ty T2. Căn cứ kết quả điều tra, không đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với Trần Thị T1 về hành vi “Trốn thuế”.
[9] Về án phí: Bị cáo Lưu Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 200; điểm b, s, i khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lưu Văn Q 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) về tội “Trốn thuế”.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lưu Văn Q.
3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng) là số tiền trốn thuế bị cáo Lưu Văn Q đã nộp vào Tài khoản tạm giữ của Sở Tài chính tỉnh T4 theo Giấy nộp tiền số 160524.0015.000314 ngày 16/5/2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N6.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lưu Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lưu Văn Q có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản ản hoặc bản án được niêm yết hợp lệ hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
||
|
Hội thẩm nhân dân |
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Thanh Hiền |
Lê Quang Hùng |
Nguyễn Thị Thu Từ |
Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về trốn thuế (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 187/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trốn thuế (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn Q - trốn thuế
