|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/12/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Thuý
Bà Trịnh Thị Yên
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá, tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 163/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29/11/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Y, sinh năm: 1984, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Y về việc giao nhận văn bản tố tụng của
Tòa án:
- Bà Phạm Quỳnh A, sinh năm 2001
- Bà Lê Thị K, sinh năm: 1941
Địa chỉ: 3 T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm: 1982, vắng mặt.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Malaysia.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 13/6/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Y trình bày:
1. Về hôn nhân:
Chị và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 03, quyển số 01/2010 ngày 14/01/2010. Trong quá trình chung sống của vợ chồng chị chỉ hạnh phúc được một thời gian đầu, nhưng sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Năm 2019, anh T1 xuất cảnh sang Malaysia để làm việc. Do không có sự gần gũi nên càng về sau thì hai vợ chồng càng mâu thuẫn hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách của hai vợ chồng không hợp, không thể tìm được tiếng nói chung. Càng ngày, tình
trạng mâu thuẫn xảy ra thường xuyên hơn, ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc của cả hai bên. Vợ chồng chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm vợ chồng và được hai bên gia đình động viên, khuyên giải nhưng không có kết quả. Đã nhiều lần chị chủ động trao đổi với anh T1 nhưng anh T1 không hợp tác. Hiện nay, chị chỉ biết anh T1 đang sinh sống và làm việc ở Malaysia còn địa chỉ cụ thể chị không biết vì chị và anh T1 đã sống ly thân một thời gian nên chị không có địa chỉ cụ thể của anh T1 để cung cấp cho Tòa án. Chị biết anh T1 vẫn liên lạc thường xuyên với gia đình, người thân thích của anh T1 ở Việt Nam.
Nay, chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
2. Về con chung:
Chị và anh T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Hải Y1, sinh ngày 22/06/2010 và cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 12/10/2018. Hiện nay hai cháu đang ở cùng chị và mẹ đẻ của chị là bà Lê Thị K (sinh năm 1941, tại T, Y, Y, tỉnh Thanh Hóa). Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu Y1 và cháu N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con.
3. Về tài sản, công nợ chung:
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo các biên bản lấy lời khai, bà Trịnh Thị L trình bày:
Bà Trịnh Thị L là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T1, chị Lê Thị Y là con dâu của bà. Anh T1 và chị Y kết hôn với nhau năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới hai vợ chồng anh T1, chị Y ở nhà bà tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa và chung sống hạnh phúc. Sau đó do kinh tế khó khăn nên năm 2020 anh T1 đi xuất khẩu lao động tại Malaysia. Được một thời gian thì vợ chồng anh T1, chị Y phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và khoảng cách địa lý nên hai vợ chồng không còn tiếng nói chung. Hai bên gia đình đã cố gắng hàn gắn cho 2 anh chị nhưng không giải quyết được. Nay chị Y có đơn ly hôn anh T1, hai bên gia đình đều được biết và không có ý kiến gì, việc của các con để các con quyết định. Bà cũng đã thông tin cho anh T1 thì anh T1 cũng đồng ý ly hôn.
Vợ chồng anh T1 và chị Y có 02 con chung là cháu Nguyễn Hải Y1, sinh ngày 22/06/2010 và cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 12/10/2018. Hiện nay hai cháu đang ở cùng chị Y tại nhà ngoại. Anh T1 và chị Y ly hôn bà đề nghị Toà án giao 2 cháu cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện nay anh T1 đang đi làm ăn xa không có mặt tại Việt nam để chăm sóc các cháu.
Hai vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung.
Anh T1 hiện đang ở Malaysia, bà không biết địa chỉ cụ thể của anh T1 nhưng bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh T1. Bà tự nguyện nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông tin lại cho anh T1.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Y, xử cho chị Y được ly hôn anh T1. Về con: Giao cháu Nguyễn Hải Y1, sinh ngày 22/06/2010 và cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 12/10/2018 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình.
- - Về án phí: Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 đăng ký hộ khẩu tại huyện Y, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay anh T1 đang sinh sống tại Malaysia. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Chị Y chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh T1 ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh T1 tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà Trịnh Thị L là mẹ đẻ của anh T1 trình bày không biết địa chỉ của anh T1 ở Malaysia. Tuy anh T1 thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Bà Trịnh Thị L vẫn thường xuyên liên lạc với anh T1 nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh T1. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị Y có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân:
Chị Lê Thị Y và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị Y đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn và ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không liên hệ với nhau, chị Y không có địa chỉ của anh T1 tại Malaysia nên không cung cấp địa chỉ của anh T1 tại Malaysia cho Tòa án được. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh T1 và chị Y đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Y được ly hôn anh T1.
[2.2]. Về con:
Anh T1 và chị Y có 02 con chung là cháu Nguyễn Hải Y1, sinh ngày 22/06/2010 và cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 12/10/2018, các cháu đang ở với chị Y. Chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 02 con. Mặt khác, nguyện vọng của cháu Y1 xin được ở với mẹ. Xét thấy nguyện vọng của chị Y xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì hiện nay anh T1 đang lao động tại Malaysia không thể trực tiếp nuôi con được. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu, cần giao 02 cháu cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị Y tự nguyện không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị Y nên chấp nhận. Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung:
Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh T1 không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh T1 yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3]. Về án phí:
Chị Y là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp.
[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Y.
- - Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
- - Về con: Công nhận cháu Nguyễn Hải Y1, sinh ngày 22/06/2010 và cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 12/10/2018 là con chung của chị Lê Thị Y và anh Nguyễn Văn T1. Giao 02 cháu cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Anh Nguyễn Văn T1 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Chị Lê Thị Y phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo Biên lai thu số 526 ngày 30/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
3. Quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị Y có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
Bản án số 187/2024/HNGĐ-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 187/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau ly hôn