|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo
- Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Lê Văn Lý;
2- Bà Phan Thị Mai Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân Dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: ông Vũ Lê Quang Đạo – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1860/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 617/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 1658/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1676/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lê Thạch T – sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: C đường số A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
ĐCLL: 153 đường D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bị đơn: ông Nguyễn Thái H – sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: số B đường B, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện đề ngày 29/7/2024, bản tự khai và tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bà Lê Thạch T trình bày: giữa bà và bị đơn ông Nguyễn Thái H sống chung với nhau từ năm 2017, có tổ chức đám cưới nhưng đến ngày 19/3/2018 mới đăng ký kết hôn tại UBND phường H, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi kết hôn ông bà sống chung với nhau hạnh phúc được một thời gian thì đến cuối năm 2018 hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường tranh cãi với nhau mà không tìm được tiếng nói chung, hai bên nhiều lần hòa giải nhưng vẫn không có kết quả dẫn đến năm 2019 đôi bên sống ly thân nhau cho đến nay. Nay bà không còn tình cảm gì với ông H nên bà yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: có hai con chung tên Nguyễn Lê H1 sinh ngày 05/5/2018 và Nguyễn Ngọc Như Ý sinh ngày 25/01/2020, khi ly hôn bà T yêu cầu nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Thái H cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Ông Nguyễn Thái H không có lời khai và cũng không nộp tài liệu chứng cứ gì.
Tại phiên tòa:
Bà Lê Thạch T có đơn xin vắng mặt; ông Nguyễn Thái H vắng mặt suốt quá trình tố tụng vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến xác định việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thạch T và ông Nguyễn Thái H sống chung với nhau năm 2017, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường H, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 36, ngày 19/3/2018. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Căn cứ phiếu xác minh ngày 14/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an phường H, thành phố T phúc đáp: ông Nguyễn Thái H – sinh năm 1990 có trú tại số B đường B, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 51 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu của bà T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân giữa bà T và ông H sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn về mọi mặt trong đời sống gia đình, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên bà T và ông H đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên cũng không thể hòa giải mâu thuẫn để về sống chung với nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy suốt quá trình tố tụng Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông H nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy ông H không quan tâm đến việc hòa giải để đoàn tụ gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thạch T được ly hôn với ông Nguyễn Thái H.
[3] Về con chung: có hai con chung là Nguyễn Lê H1 sinh ngày 05/5/2018 và Nguyễn Ngọc Như Ý sinh ngày 25/01/2020. Ông Nguyễn Thái H không có ý kiến trong quá trình tố tụng. Hội đồng xét xử xét các con chung hiện nay đang sống chung với bà Lê Thạch T, bà T đảm bảo được các điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung từ khi bà T và ông H sống ly thân cho đến nay, Hội đồng xét xử giao các con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của các con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: bà Lê Thạch T không yêu cầu ông Nguyễn Thái H cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Lê Thạch T phải chịu. Án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng ông Nguyễn Thái H phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 85; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm a, b khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thạch T:
- Về án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Lê Thạch T phải chịu. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, bà Lê Thạch T đã nộp theo biên lai thu tiền số 42485 ngày 23/9/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà Lê Thạch T đã nộp đủ.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thạch T được ly hôn với ông Nguyễn Thái H.
Về con chung: có hai con chung là Nguyễn Lê H1 sinh ngày 05/5/2018 và Nguyễn Ngọc Như Ý sinh ngày 25/01/2020. Giao hai con chung cho bà Lê Thạch T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Buộc ông Nguyễn Thái H cấp dưỡng nuôi hai con chung 2.000.000 đồng/tháng (mỗi con chung 1.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thạch T không yêu cầu ông Nguyễn Thái H cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều7a (áp dụng Điều 7b nếu có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); Điều 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu T1 |
Bản án số 1860/2024/TLST- HNGĐ ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1860/2024/TLST- HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho ly hôn
