Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 186/2023/HSST

Ngày: 30/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Tấn Đức

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Khổng Sơn Tùng – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 185/2023/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Lâm T; sinh năm 1988; tại: An Giang; trú tại: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; chỗ ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Phụ bếp; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Hải L (đã chết) và bà Lâm Thị Tuyết H, sinh năm 1958; vợ: Bị cáo sống chung như vợ chồng với Lưu Thị Kim T1, sinh năm 1985, và con 01 người, sinh năm 2005; Tiền sự: không; Tiền án: ngày 26/4/2021 bị Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/9/2021; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày: 12/5/2023 – Có mặt.
  2. Phan Thành C; sinh năm 1991; tại: An Giang; trú tại: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Đầu bếp; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn C1, sinh năm 1947 và bà Trần Thị N, sinh năm 1963; vợ, con: chưa có; Tiền sự: không; Tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày: 12/5/2023 – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ, ngày 12/5/2023, Phan Thành C điều khiển xe máy hiệu Honda Wave, biển số 54K2-0550 chở Hoàng Lâm T, khi đang lưu thông trên đường, thì TC bàn bạc hùn tiền mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy đá sử dụng chung. Sau đó, C điều khiển xe máy chở T qua khu vực đường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy, khi đến một hẻm nhỏ thì C gặp một nam thanh niên (không rõ lai lịch) mua 300.000 đồng tiền mua túy đá.

Đến khoảng 22 giờ 40 phút, cùng ngày khi điều khiển xe máy đến trước nhà số A đường S, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì Phan Thành CHoàng Lâm T bị Công an phường S kiểm tra hành chính do không mang giấy tờ tùy thân nên Công an phường S đưa về trụ sở để làm việc. Tại Công an phường S phát hiện T đang cầm 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, nghi là ma túy nên đã tiến hành thu giữ, niêm phong rồi chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T để xử lý theo quy định.

Theo kết luận giám định số 5097/KL-KTHS ngày 19/5/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6429g, loại Methamphetamine.

Vật chứng:

  • 01 (một) gói niêm phong ghi số 1096/23 bên ngoài có chữ ký ghi rõ tên Võ La Bảo Y (Giám định viên), Nguyễn Trọng H1 (Cán bộ điều tra)
  • 01 (một) xe gắn máy dạng Wave, biển số 54K2-0550, số khung: không rõ, số máy: VTT1P52FMH-2025527. Phan Thành Công khai xe gắn máy trên Công mượn của một người quen biết ngoài xã hội tên T2 (không rõ lai lịch, địa chỉ)
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen số Imel 1: 868573025551893, số I 2: 868573025551885, là điện thoại cá nhân của Hoàng Lâm T, không sử dụng vào mục đích mua ma túy.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A37FW màu xám số Imel 1: 866977032071971, số I 2: 866977032071963, là điện thoại cá nhân của Phan Thành C, không sử dụng vào mục đích mua ma túy.

Tại bản cáo trạng số 185/CT-VKSQ.TP ngày 17 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố các bị cáo Hoàng Lâm T, Phan Thành C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hoàng Lâm T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Thành C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
  • Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng.
  • Các bị cáo Hoàng Lâm T, Phan Thành C đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

    Vào khoảng 21 giờ 40 phút ngày 12/5/2023, Công an phường S, quận T kiểm tra hành chính đối với Hoàng Lâm TPhan Thành C thì phát hiện bị cáo Hoàng Lâm T đang cầm 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nghi là ma túy nên giao các bị cáo cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận T xử lý. Các bị cáo thừa nhận hùn tiền mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy sử dụng chung. Trên đường tìm địa điểm để sử dụng thì bị công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ.

    Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Hoàng Lâm T, Phan Thành C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, như bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ kết luận giám định của Phòng K1 Công an Thành phố H thì các bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,6429 gam loại Methamphetamine nên Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố các bị cáo Hoàng Lâm T, Phan Thành C theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý phạm tội.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Hoàng Lâm T vào ngày 26/4/2021 bị Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/9/2021, bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  5. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng các bị cáo nhất thời phạm tội, không có sự bàn bạc phân công vai trò của từng bị cáo nên mang tính giản đơn. Vì vậy vai trò của các bị cáo trong vụ án này là ngang nhau.
  6. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  7. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự qui định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....”. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải phạt mỗi bị cáo số tiền 5.000.000 đồng.
  8. Về xử lý vật chứng:
    • 01 (một) gói niêm phong ghi số 1096/23 bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ La Bảo Y (Giám định viên), Nguyễn Trọng H1 (Cán bộ điều tra), đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • 01 (một) xe gắn máy dạng Wave, biển số 54K2-0550, số khung: không rõ, số máy: VTT1P52FMH-2025527. Phan Thành Công khai xe gắn máy trên Công mượn của một người quen biết ngoài xã hội tên T2 (không rõ lai lịch, địa chỉ). Theo kết luận giám định số 3733/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H thì xe mô tô biển 54K2-0550 có kết luận số khung: mài mất số, không xác định được số nguyên thủy, số máy: không thay đổi. Qua xác minh biết được số máy: VTT1P52FMH-2025527 do ông Phạm Quốc K, ngụ tại nhà số B đường T, Phường 1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Ông Phạm Quốc K không thực tế cư trú tại địa chỉ trên, không rõ đi đâu, làm gì.
    • Theo kết luận giám định số 8733/KL-KTHS ngày 05/10/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, xác định biển số xe 54K2-0550 là thật. Qua xác minh biển số xe gắn máy do ông Hồ Châu P, ngụ tại nhà số B đường số B, Khu dân cư B, Phường A, Quận F Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hồ Châu P không thực tế cư trú tại địa chỉ trên, không rõ đi đâu, làm gì.

    Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu hoặc người đang quản lý sử dụng hợp pháp chiếc xe gắn máy dạng Wave, biển số 54K2-0550, số khung: không rõ, số máy: VTT1P52FMH-2025527, giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng hợp pháp, nếu không tìm được thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

    • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen số Imel 1: 868573025551893, số I 2: 868573025551885 thu giữ của Hoàng Lâm T và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A37FW màu xám số Imel 1: 866977032071971, số Imel 2: 866977032071963 thu giữ của Phan Thành C, đây là tài sản cá nhân của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Đối với đối tượng bán ma túy cho các bị cáo do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở điều tra làm rõ xử lý, khi nào điều tra làm rõ xử lý sau.

  9. Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Hoàng Lâm T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Hoàng Lâm T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 12 tháng 5 năm 2023.

  2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Phan Thành C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Phan Thành C 02 (hai) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 12 tháng 5 năm 2023.

  3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Phạt các bị cáo Hoàng Lâm T, Phan Thành C mỗi bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

  4. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi số 1096/23 bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ La Bảo Y (Giám định viên), Nguyễn Trọng H1 (Cán bộ điều tra).
    • - Giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng hợp pháp 01 (một) chiếc xe gắn máy dạng Wave, biển số 54K2-0550, số khung: không rõ, số máy: VTT1P52FMH-2025527.
    • - Trả cho bị cáo Hoàng Lâm T 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen số Imel 1: 868573025551893, số I 2: 868573025551885.
    • - Trả cho bị cáo Phan Thành C 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A37FW màu xám số Imel 1: 866977032071971, số I 2: 866977032071963.

    (Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 305/PNK ngày 27/11/2020 của Công an quận T)

  5. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - Người tham gia tố tụng
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh
  • - VKS Q.T.
  • - THA quận Tân Phú.
  • - Công an Q.T
  • - Công an T
  • - Sở Tư pháp TP . Hồ Chí Minh
  • - Lưu hồ sơ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Viết Hoàng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2023/HSST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 186/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger