Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2024/HSST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Hiếu – Giáo viên

2. Bà Phan Thị Nhụ - Cán bộ về hưu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Khánh – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 190/2024/TLST - HS ngày 10/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Trọng Q

    , sinh năm 2003.

    HKTT: Thôn P, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng Đ và bà Phan Thị T; vợ, con: chưa có.

    - Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại bản 144/2024/HSST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại Khoản 1, Điều 174 BLHS. Bản án chưa được thi hành.

    - Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

  2. Phạm Trọng T1

    , sinh năm 2002.

    HKTT: Thôn P, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng V, bà Nguyễn Thị Q1; vợ, con: chưa có.

    - Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

- Bị hại:

  1. Cháu Phạm Hồng N, sinh ngày 06/7/2009 (vắng mặt)

    Người đại diện theo pháp luật: Chị Lê Thị T2, sinh năm 1985

    Trú tại: Thôn Phúc Lộc, xã Châu Phong, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

  2. Anh Lê Văn H, sinh năm 2005; trú tại: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hoàng D, sinh năm 1993; trú tại: Thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)

  2. Anh Phạm Trọng T3, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

  3. Chị Lê Thị T2, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

  4. Ông Phạm Trọng V, sinh năm 1959 (Có mặt)

  5. Ông Phạm Trọng Đ, sinh năm 1974 (Có mặt)

Cùng trú tại: Thôn P, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Trọng QPhạm Trọng T1 có quan hệ anh em họ với nhau. Khoảng 23 giờ 00, ngày 23/06/2024, QT1 đi chơi về muộn nên về nhà T1 để ngủ. Khi về nhà thấy bố mẹ ngủ tại tầng 01 nên T1 dẫn Q đi lên phòng ngủ tầng 02 của T1 ngồi chơi ở thành cửa sổ thì phát hiện cửa sổ nhà anh Phạm Trọng H1 là hàng xóm ở đối diện nhà T1 đang mở hé không có chấn song và cách nhà T1 khoảng 40cm nên QT1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, Q bảo T1 chèo sang nhà anh H1 xem có tài sản gì để trộm cắp, T1 đồng ý. Lúc này, T1 kéo mở cửa sổ và bước sang nhà anh H1 qua cửa sổ, sau đó Q cũng bước sang theo. Sau khi sang nhà anh H1, Q bảo T1 đi xuống tầng 02 tìm tài sản trộm cắp còn Q đứng cảnh giới thì T1 đồng ý và đi cầu thang xuống tầng 02 đứng ở trước cửa phòng bên trái giáp cầu thang đứng quan sát thấy không có ai và không có tiếng động. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 24/6/2024, T1 mở cửa đi vào trong phòng quan sát thấy cháu N và anh H nằm trên sàn nhà, bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1959 và chị Phạm Thùy T4, sinh năm 2006 (là bà nội và chị của cháu N) đang nằm trên giường. Tới quan sát xung quanh phòng thì phát hiện thấy phía trên đầu của cháu N và anh H đang nằm có 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS và 01 điện thoại nhãn hiệu Xaomi Redmi 10 nên đã đi vòng qua cầm hai chiếc điện thoại trên rồi nhẹ nhàng đi lên tầng 03 nhà anh H1. Khi lên tầng 03 nhà anh H1 thì T1 thấy Q đã trèo qua cửa sổ về nhà nên T1 đưa 02 điện thoại vừa trộm cắp được cho Q cầm rồi trèo qua cửa sổ về nhà. Đến khoảng 06 giờ 00 phút ngày 24/06/2024, QT1 mang 02 điện thoại đến cửa hàng H2thôn C, xã C, thị xã Q gặp anh Hoàng D, để bán điện thoại. Tại đây, T1Q đặt vấn đề bán điện thoại nhãn hiệu Iphone XS, anh D xem điện thoại và đồng ý mua với giá 1.000.000 đồng thì T1 đồng ý. Sau đó, anh D đưa cho Q 1.000.000 đồng tiền bán điện thoại nhãn hiệu Iphone XS. Q đưa cho T1 700.000 đồng còn Q giữ 300.000 đồng. Lúc này, T1 bảo anh D thay màn hình điện thoại nhãn hiệu Xaomi Redmi 10 mà Tới vừa trộm cắp được thì anh D báo giá thay màn hình điện thoại là 500.000 đồng thì T1 đồng ý và đưa cho anh D 500.000 đồng để thay màn hình điện thoại Xaomi Redmi 10, số tiền bán điện thoại còn lại QT1 tiêu sài cá nhân hết. Đến 15 giờ 30', cùng ngày sau khi biết QT1 trộm cắp tài sản tại gia đình anh H1, anh Phạm Trọng T3 (là chú của cháu N) đã đến cửa hàng điện thoại gặp anh Hoàng Dương c lại điện thoại nhãn hiệu Iphone XS do QT1 trộm cắp với giá 1.050.000 đồng và đưa lại cho anh H sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản các số 34, 35 ngày 28/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Q kết luận:

"Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu trắng đã qua sử dụng (vỡ một phần kính phía trên góc bên trái màn hình) tại thời điểm định giá trị giá là 3.500.000 đồng"

"Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xaomi Redmid 10 màu trắng đã qua sử dụng, bị vỡ ố màn hình, không có mật khẩu tại thời điểm định giá trị giá là: 1.500.000 đồng"

Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 146/CT-VKSQV ngày 10 tháng 9 năm 2024 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố các bị cáo Phạm Trọng Q, Phạm Trọng T1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Q, T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nêu trên. Bị cáo xác định hành vi của mình là phạm tội và hứa sẽ cải tạo tốt, không tái phạm.

Bị hại là cháu Phạm Hồng N, anh Lê Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng D, anh Phạm Trọng T3, chị Lê Thị T2 đều không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì và đều xin vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Trọng V, ông Phạm Trọng Đ có mặt tại phiên tòa và trình bày: Đều được các bị cáo Q, T1 tác động để bồi thường cho cháu N. Nay hai ông đều không yêu cầu hai bị cáo phải trả lại số tiền này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Khẳng định Cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố các bị cáo Phạm Trọng QPhạm Trọng T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s (bị cáo T1 áp dụng thêm điểm i) khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i, Khoản 1, Điều 52; các điều 17, 38, 58, 47 (Bị cáo Q áp dụng thêm Điều 56) Bộ luật hình sự; các điều 106, 329, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Trọng Q từ 06 - 10 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 140/2024/HS – ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 15 – 19 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Trọng T1 từ 6-10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024
  • - Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 màn hình điện thoại phần kính bị vỡ phía sau.
  • - Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo QT1 nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện VKSND thị xã Quế Võ, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, trưng cầu định giá, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, bị hại, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, bị hại là cháu Phạm Hồng N (người giám hộ là chị Lê Thị T2) và anh Lê Văn H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng D, chị Lê Thị T2 và anh Phạm Trọng T3 đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời cũng đã có đầy đủ quan điểm liên quan đến quyền lợi của mình. Do vậy, việc những người này vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Trọng Q, Phạm Trọng T1 tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp với Đơn xin đầu thú, các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bản kết luận định giá tài sản và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 24/6/2024, tại nhà của gia đình anh Phạm Trọng H1 thuộc thôn P, xã C, thị xã Q, Phạm Trọng QPhạm Trọng T1 có hành vi đột nhập vào nhà anh H1 và lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại nhãn hiệu Xaomi Redmi 10 trị giá 1.500.000 đồng của cháu Phạm Hồng N và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs trị giá 3.500.000 đồng của anh Lê Văn H. Tổng giá trị tài sản QT1 trộm cắp là 5.000.000 đồng. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Phạm Trọng QPhạm Trọng T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đúng như Cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị hại là cháu N chưa đủ 16 tuổi (14 tuổi 11 tháng 18 ngày) nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội với người dưới 16 tuổi" theo quy định tại điểm i, Khoản 1, Điều 52 BLHS.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện đầu thú, đều tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo T1 có ông nội là người có công với cách mạng nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu tới tình hình trị an tại địa phương. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hai bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về vai trò của các bị cáo, trong vụ án này các bị cáo cùng này sinh ý định trộm cắp tài sản, T1 là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Q là người cảnh giới. Sau đó, cả hai cùng mang hai chiếc điện thoại trộm cắp được đi tiêu thụ. Do vậy, vai trò của hai bị cáo là tương đương.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu bồi thường gì thêm. Nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

[8] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Xaomi Redmid 10 Q và Tới trộm cắp của cháu N quá trình điều tra T1 khai nhận đã làm rơi mất. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã ra Quyết định truy tìm vật chứng đến nay chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.
  • - Đối với 01 màn hình điện thoại phần kính bị vỡ phía sau có các ký hiệu 1580368050ROHSLL10, không còn giá trị sử dụng, bị hại là chị N không yêu cầu gì nên tịch thu, tiêu hủy.

[9] Đối với số tiền 1.050.000 đồng anh Phạm Trọng T3 dùng chuộc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS cho cháu H. Quá trình điều tra xác định của chị Lê Thị T2 (mẹ cháu N) đưa cho anh T3, chị T2 không yêu cầu bị cáo QT1 phải trả lại số tiền trên. HĐXX không đặt ra giải quyết.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

[11] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Trọng QPhạm Trọng T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s (bị cáo T1 áp dụng thêm điểm i) khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i, Khoản 1, Điều 52; các điều 17, 38, 58, 47 (Bị cáo Q áp dụng thêm Điều 56) Bộ luật hình sự; các điều 106, 329, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  3. Xử phạt bị cáo Phạm Trọng Q 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 144/2024/HS – ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024.
  4. Xử phạt bị cáo Phạm Trọng T1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024
  5. Tạm giam các bị cáo Phạm Trọng Q, Phạm Trọng T1 mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  6. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 màn hình điện thoại phần kính bị vỡ phía sau có các ký hiệu 1580368050ROHSLL10. Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/9/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.
  7. Các bị cáo Phạm Trọng Q, Phạm Trọng T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kết từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Hiếu

Phan Thị Nhụ

Phan Đình Công

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thị xã Quế Võ;
  • - Công an thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; bị hại; người liên quan.
  • - Lưu HS, VT;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Đình Công

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 186/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger