Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2024/HS-ST

Ngày 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Cường;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 19 và 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Hoàng Thế A, sinh năm 2004 tại tỉnh Quảng Bình; thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N, sinh năm 1980 và bà Trần Thị V, sinh năm 1979; bị cáo có hai chị em (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 12/01/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Dĩ An xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội cướp giật tài sản theo Bản án số 04/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 23/7/2022, đóng án phí ngày 24/3/2021; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay; (Có mặt).

2. Dương Hoàng Anh K, sinh năm 2004 tại tỉnh Bến Tre; thường trú: số A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H (đã chết) và bà Lưu Kim L, sinh năm 1975; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2023 đến nay; (Có mặt).

3. Bùi Anh H1, sinh năm 2000, tại tỉnh Bình Dương; thường trú: số E, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Công C, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Lệ D, sinh năm

1975; Bị cáo có 01 chị ruột sinh năm 1997; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2023 đến nay; (Có mặt).

4. Võ Trường G, sinh năm 2004, tại tỉnh Bình Dương; thường trú: số cũ A (nay là 77/7 T), khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Long C1, sinh năm 1975 và bà Trần Mai P, sinh năm 1977; bị cáo có 01 anh ruột sinh năm 1998; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 02/4/2021, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng theo Bản án số 47/2021/HS-PT, chấp hành xong hình phạt ngày 26/9/2022, đóng án phí ngày 27/4/2021; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2023 đến nay; (Có mặt).

5. Hà Văn H2, sinh năm 1996, tại tỉnh Thanh Hoá; thường trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H3, sinh năm 1975 và bà Trần Thị B, sinh năm 1972; bị cáo có 03 em ruột (lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2007); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 07/12/2023 đến nay; (Có mặt).

6. Đoàn Ngọc H4, sinh ngày 16/6/2005, tại tỉnh Quảng Bình; thường trú: thôn M, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Ngọc Á, sinh năm 1976 và bà Võ Thị H5, sinh năm 1979; bị cáo có 01 chị ruột sinh năm 2003; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2023 đến nay; (Có mặt).

7. Đào Hà Cẩm T, sinh ngày 11/12/2006, tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 255/18/3, tổ B, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Vũ Q, sinh năm 1978 và bà Trần Thị H6, sinh năm 1978; bị cáo có 01 anh ruột sinh năm 2001; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2023 đến nay; (Có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đoàn Ngọc H4: Ông Đoàn Ngọc Á, sinh năm 1976 và bà Võ Thị H5, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ thường trú: thôn M, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình; (Có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đào Hà Cẩm T: Ông Đào Vũ Q, sinh năm 1978 và bà Trần Thị H6, sinh năm 1978; cùng địa chỉ thường trú: số B khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Ông Q có mặt, bà H6 vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Ngọc H4: Ông Phan Thúc Đ - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Đào Hà Cẩm T: Ông Nguyễn Tiến D1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị X, sinh năm 1942; thường trú: số A khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).

- Người chứng kiến: Nguyễn Thanh V1, sinh năm 1998. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn D2 sống tại căn nhà địa chỉ C N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. D2 quen biết với Hoàng Thế A, Hà Văn H2.

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 07/01/2023, D2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro gắn sim số 0918.068.168 để liên lạc với một người bạn mới quen tên H7 (không rõ nhân thân lai lịch) để hỏi chỗ bán ma tuý thì H7 nói sẽ có người liên lạc lại cho D2. Sau đó, số điện thoại 0933.908.xxx gọi điện để hỏi D2 mua ma túy loại nào thì D2 nói mua “hộp 05" (Ketamine) và 02 viên thuốc lắc (MDMA), D2 gửi địa chỉ nhà D2 cho người bán ma túy. Khoảng 15 phút sau, có một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà của D2 giao ma tuý cho D2 nhưng D2 chưa trả tiền, người thanh niên này gửi số tài khoản 07506719999 của Ngân hàng TMCP T2, để D2 chuyển khoản sau. Sau khi mua được ma túy, D2 mang ma tuý lên phòng ngủ của D2 rồi gọi điện thoại cho Hoàng Thế A để rủ Anh sử dụng ma túy nhưng Anh từ chối. Lúc này Thế A đang uống nước với H2. Sau khi Thế A từ chối, D2 tiếp tục gọi điện cho H2 đến nhà của D2 vì D2 có nói với H2 là D2 bị đánh nên H2 đồng ý và rủ Thế A đi cùng. Khi đi đến nhà của D2, Thế A và H2 nhìn thấy D2 đã mở nhạc, đèn và trên đĩa sứ có ma túy nên Thế A lấy tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng ra để cuộn tròn nhưng không cuộn được nên D2 lấy cuộn thành ống hút rồi dùng thẻ cào ngân hàng B2 để xào ma tuý trên đĩa sứ để cho D2, Thế A và H2 lần lượt sử dụng. Trước đó, D2 đưa cho Thế A một viên thuốc lắc, Thế A chia ra làm ¼ rồi đưa cho H2 một phần, Thế A lấy một phần sử dụng. Trong lúc sử dụng ma túy, Thế A gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Võ Trường G nói chuyện thì G thấy có nhạc và đèn nên hỏi Thế A đang sử dụng ma tuý ở đâu, cho G sử dụng chung được không thì Thế A đồng ý G. Khi G đi đến nhà D2 thì H2 xuống mở cửa, đưa G lên phòng rồi D2. H2 lấy một phần ma túy trước đó Thế A cho (H2 không sử dụng) đưa cho G để G sử dụng chung cùng Thế A và D2.

Đến khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, sau khi sử dụng hết số ma tuý mà D2 mua thì H2 ra về, còn D2, Thế A, G vẫn ngồi nghe nhạc trong phòng. Lúc này, Bùi Anh H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh gắn sim số 0589.087.285 gọi điện qua ứng dụng Messenger cho G để nói chuyện thì nhìn thấy chỗ G có nhạc và đèn chớp nên biết G đang sử dụng ma tuý nên H1 hỏi G đang sử dụng ma tuý ở đâu để H1 qua sử dụng thì G gửi vị trí cho H1. Lúc này, H1

rủ D3 Hoàng Anh K cùng đi qua chỗ G thì K đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H1, K đi đến nhà D2 và nhìn thấy D2, Thế A, G đang trong phòng ngủ và không còn sử dụng ma tuý nữa nên H1 nói “Giờ sao, có chơi nữa không để còn biết”. Lúc này, Thế A hỏi D2 mua ma túy ở đâu thì D2 điện thoại cho người thanh niên đã giao ma túy trước đó để lấy thêm ma tuý gồm “nửa hộp 5 ma túy K3 (Ketamine) và 02 (hai) viên thuốc lắc”. H1, G, K, Thế A bàn bạc và thống nhất sẽ góp tiền đưa cho D2 để trả tiền mua ma túy.

Trong lúc chờ người giao ma tuý đến, Thế A mượn xe của H1 để đi lấy đó, sau đó Thế A gọi điện nhờ T đi lấy xe mang về nhà D2 dùm Thế A. Lúc này, H2 quay lại nhà D2 để chở Thế A về. Khoảng 15 phút sau, T đi cùng với Đoàn Ngọc H4 mang xe của Thế A đến nhà của D2 để đưa xe cho Thế A. Khi giao xe cho Thế A, biết Thế A đang sử dụng ma tuý nên T xin Thế A cho T và H4 cùng sử dụng ma tuý thì Thế A đồng ý. Thế A nói với T và H4 nếu muốn sử dụng chung ma túy thì phải góp tiền cùng Thế A, K, G, H1 thì T và H4 đồng ý. Tiền ma túy là 3.600.000 đồng. Một lúc sau, người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mang ma tuý đến giao cho D2 và nói giá tiền là 3.600.000 đồng nhưng D2 nói với người thanh niên này sẽ chuyển khoản trả sau nên người thanh niên đi về. Còn D2 đưa ma túy cho H1 cất giữ. Tiếp đó, D2, H1, G, K, Thế A, H2, T, H4 lên phòng ngủ của D2. Tại đây, D2 trực tiếp đổ ma tuý Ketamine ra đĩa để xào, H1 bẻ 02 viên thuốc lắc thành nhiều mảnh nhỏ để H1 cùng D2, G, K, Thế A, H2, T, H4 cùng sử dụng. Đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 08/01/2023 thì sử dụng hết ma tuý. Lúc này, Công an phường D kiểm tra hành chính, các đối tượng khai nhận hành vi góp tiền mua ma túy sử dụng chung nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa D2, H1, G, K, Thế A, H2, T, H4 về trụ sở làm việc.

* Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1820/KLGĐ ngày 26/4/2023 kết luận:

- Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội cho đến hiện tại, đối tượng Trần Văn D2 bị rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn sau chấn thương sọ não (F07.8- CD10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội cho đến hiện tại, đối tượng Trần Văn D2 hạn chế khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.

- Việc đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hình sự của Đối tượng không thuộc thẩm quyền trả lời của Giám định viên tư pháp Pháp y tâm thần.

Ngày 19/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố bị can đối với T, H4, G, K, H1, Thế A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Ngày 07/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố bị can đối với H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo Hoàng Thế A bỏ trốn nên ngày 19/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định truy nã.

Ngày 09/12/2023, Hoàng Thế A đầu thú và bị bắt giữ theo quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D và bị tạm giam để điều tra về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” cho đến nay.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) cái đĩa bằng sành màu trắng đường kính 20cm;
  • - 01 (một) ống hút làm bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng không còn nguyên;
  • - 01 (một) thẻ cào màu xanh;
  • - 01 (một) loa tay màu đen 25 x 40cm;
  • - 01 (một) đèn nháy màu đen, trắng;
  • - 01 (một) điện thoại di động Oppo màu bạc gắn sim số 0969188421 của Dương Hoàng Anh K;

Quá trình điều tra, các bị cáo và các đương sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.

Tại Cáo trạng số: 168/CT-VKS-DA ngày 26 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hoàng Thế A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Dương Hoàng Anh K1, Võ Trường G, Bùi Anh H1, Đào Hà Cẩm T, Đoàn Ngọc H4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hà Văn H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thế A từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù.

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

  • + Xử phạt bị cáo Dương Hoàng Anh K1 từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến từ 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù.
  • + Xử phạt bị cáo Võ Trường G từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến từ 08 (tám) năm tù.
  • + Xử phạt bị cáo Bùi Anh H1 từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến từ 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù.

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90, 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Hà Cẩm T từ 05 (năm) năm đến từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc H4 từ 05 (năm) năm đến từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Văn H2 từ 07 (bảy) năm đến từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) đĩa bằng sành màu trắng đường kính 20cm; 01 (một) thẻ cào màu xanh; 01 (một) loa tay màu đen 25 x 40cm; 01 (một) đèn nháy màu đen, trắng; sim số 0347246798, 0589087285, 0908232369 các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 tờ tiền 20.000 đồng không còn nguyên vẹn các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động Oppo màu bạc của Dương Hoàng Anh K1 sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung qũy Nhà nước. Đối với sim số 0969188421 không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 pro gắn sim số 0918068168 của Trần Văn D2, 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 pro gắn sim số 0396198072 của Hà Văn H2, 01 (một) điện thoại di động Oppo màu xanh gắn sim số 0589087285 của Bùi Anh H1, 01 (một) điện thoại di động Iphone màu đen gắn sim số 0347246798 của Hoàng Thế A, 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 gắn sim số 0908232369 của Võ Trường G, 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs màu đen gắn sim số 0763275877 của Đào Hà Cẩm T. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã bán, hiện không thu hồi.
  • + Đối với Trần Văn D2 cung cấp ma tuý, cung cấp địa điểm các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội D2 hạn chế về mặt nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi phạm tội. D2 đang chữa bệnh bắt buộc tại Bệnh viện tâm thần thành phố Đ theo Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 01/QĐ-VKSTH ngày 25/8/2023 và thông báo về nhận đối tượng áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 873/TB-BVTT ngày 08/9/2023 và ra Quyết định tách vụ án hình sự số 26 ngày 18/9/2023.
  • + Đối với người đàn ông tên H7 và người thanh niên giao ma túy cho Trần Văn D2 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
  • + Đối với Lưu Thanh Q1 sử dụng số điện thoại 0933.908.xxx và chủ tài khoản 07506719999 ngân hàng T3 qua xác minh Q1 không có mặt tại địa phương,

chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Người bào chữa cho bị cáo Đào Hà Cẩm T:

Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên việc đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết định khung “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp. Bởi lẽ, trong trường hợp này bị cáo T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Trong trường hợp này bị cáo không thể biết được những bị cáo còn lại ai trên hoặc dưới 18 tuổi. Ngoài ra, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 91 và Điều 101 của Chương XII Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội để xem xét mức hình phạt thật phù hợp để mang tính răn đe, giáo dục. Trong vụ án này có tính chất đồng phạm, bị cáo T góp vai trò thứ yếu trong vụ án. Bị cáo không cung cấp địa điểm, dụng cụ để các bị cáo khác sử dụng ma túy, bị cáo chỉ đóng góp một phần nhỏ (350.000 đồng) để mua ma túy sử dụng chung; Bị cáo T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị cáo khó khăn, ba mẹ không sống chung với nhau từ khi bị cáo còn nhỏ; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bà ngoại của bị cáo là thương binh, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để hạ khung hình phạt dưới mức thấp nhất cho bị cáo T.

- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Ngọc H4: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo H4 về việc truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt đưa ra đối với bị cáo là quá nặng so với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Tại thời điểm phạm tội bị cáo H4 chưa đủ 18 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Chương XII của Bộ luật Hình sự để xét xử đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải; Ba, mẹ bị cáo là công nhân, thiếu hiểu biết nên không có thời gian chăm sóc giáo dục dẫn đến bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế; Ngoài ra, ông ngoại và bà nội bị cáo có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự hạ khung hình phạt cho bị cáo H4 mức án 02 năm đến 03 năm tù.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo: Riêng mức hình phạt thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định; người bào chữa cho bị cáo Tiên đề n không áp dụng tình tiết định khung “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là không phù hợp, bởi lẽ: Theo quy định của Bộ luật Hình sự thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Không có trường

hợp và quy định nào không áp dụng tình tiết định khung “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” cho người dưới 18 tuổi phạm tội.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo và các bị cáo không tranh luận, đối đáp; Lời nói sau cùng các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

[2.1] Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 07/01/2023 tại địa chỉ số A N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Trần Văn D2 là người cung cấp địa điểm, dụng cụ, ma túy và xào ma túy rồi rủ Hoàng Thế A và Hà Văn H2 sử dụng ma túy. Hoàng Thế A có hành vi rủ Võ Trường G cùng sử dụng ma túy với Thế A, Trần Văn D2 và Hà Văn H2. Hoàng Thế A cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy là tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn thành ống hút và phân chia ma túy MDMA để sử dụng cùng Trần Văn D2, Hà Văn H2 và Võ Trường G. Ngoài ra, khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 07/01/2023 tại số A N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Hoàng Thế A còn bàn bạc với Dương Hoàng Anh K1, Võ Trường G, Bùi Anh H1, Đoàn Ngọc H4, sinh ngày 16/6/2005, Đào Hà Cẩm T, sinh ngày 11/12/2006 góp tiền mua ma túy để sử dụng và cho Hà Văn H2 sử dụng cùng.

Hành vi của Hoàng Thế A cung cấp ma túy, dụng cụ, phân ma túy để các đối tượng khác thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó có Đào Hà Cẩm T và Đoàn Ngọc H4 chưa đủ 18 tuổi đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với các tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên”, “đối với 02 người trở lên” và “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[2.2] Chiều ngày 07/01/2023 tại địa chỉ số A N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Trần Văn D2 cung cấp địa điểm, ma túy và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy cho Hoàng Thế A và Hà Văn H2 sử dụng. Thế A rủ thêm

Võ Trường G đến để cùng sử dụng ma túy. Khi G đến, H2 đã có hành vi mở cửa và dẫn G lên phòng, cung cấp ma túy cho G sử dụng cùng Thế A và D2. Hành vi trên của Hà Văn H2 mở cửa dẫn G lên phòng, cung cấp ma túy cho G sử dụng cùng Thế A và D2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[2.3] Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 07/01/2023, tại nhà của Trần Văn D2 thuê tại địa chỉ số A N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Võ Trường G, Bùi Anh H1, Dương Hoàng Anh K1, Đoàn Ngọc H4, Đào Hà Cẩm T cùng Hoàng Thế A góp tiền mua ma tuý loại MDMA và Ketamine về cho Hà Văn H2 và Trần Văn D2 sử dụng chung. Trong đó, Bùi Anh H1 là người chia ma túy, Trần Văn D2 cung cấp địa điểm, dụng cụ, xào nấu ma túy. Hành vi của Dương Hoàng Anh K1, Võ Trường G, Bùi Anh H1, Đào Hà Cẩm T và Đoàn Ngọc H4 cung cấp ma túy để các đối tượng khác thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, Đào Hà Cẩm T và Đoàn Ngọc H4 chưa đủ 18 tuổi đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên” và “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[2.4] Như vậy, Cáo trạng số: 168/CT-VKS-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Viện kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Về nhận thức, các bị cáo biết ma túy (K2 và MDMA) là loại chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[4] Trong vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Thế A là người rủ bị cáo G và cung cấp dụng cụ, phân chia ma túy để các bị cáo khác sử dụng ma túy; Bị cáo H1 là người cung cấp ma túy và phân chia ma túy cho các bị cáo khác sử dụng; Bị cáo H2 là người mở cửa, dẫn bị cáo G lên phòng và cung cấp ma túy cho G sử dụng; Bị cáo G, H4, K1 và T là người góp tiền ma túy để sử dụng với các bị cáo còn lại.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo Đoàn Ngọc H4 có ông ngoại tên Võ Văn T1 và bà nội Nguyễn Thị H8 là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và hạng nhì, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Gia đình bị cáo Đào Hà Cẩm T có cung cấp giấy chứng nhận thương binh của bà Trần Thị B1 là bà ngoại của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo T mới dưới 18 tuổi chưa có công sức chăm sóc, nuôi dưỡng nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân:

Các bị cáo Hoàng Thế A và Võ Trường G có nhân thân xấu. Bị cáo Thế A từng bị Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội cướp giật tài sản. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn, gây khó khăn cho Cơ quan tiến hành tố tụng.

Bị cáo Võ Trường G từng bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng không lấy đó làm bài học nay lại tiếp tục phạm tội.

Các bị cáo Dương Hoàng Anh K1, Bùi Anh H1, Hà Văn H2, Đào Hà Cẩm T, Đoàn Ngọc H4 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[8] Đối với bị cáo H4 và T khi thực hiện hành vi phạm tội độ tuổi của bị cáo trên 16 tuổi dưới 18 tuổi, khả năng nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng chương XII những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để xem xét mức hình phạt đối với bị cáo H4 và T.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) đĩa bằng sành màu trắng đường kính 20cm, 01 (một) thẻ cào màu xanh, 01 (một) loa tay màu đen 25 x 40cm, 01 (một) đèn nháy màu đen, trắng, sim số 0589087285. Xét, đây là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) tờ tiền 20.000 đồng không còn nguyên vẹn các bị dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Đối 01 (một) điện thoại Oppo màu bạc thu giữ của D3 Hoàng Anh K1 đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[10] Đối với Trần Văn D2 cung cấp ma tuý, cung cấp địa điểm, dụng cụ và nấu ma túy để các bị cáo khác sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội D2 hạn chế về mặt nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi. Hiện Trần Văn D2 đang chữa bệnh bắt buộc tại Bệnh viện tâm thần thành phố Đ theo Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 01/QĐ-VKSTH ngày 25/8/2023 và thông báo về nhận đối tượng áp dụng biện pháp bắt

buộc chữa bệnh số 873/TB-BVTT ngày 08/9/2023. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 26 ngày 18/9/2023 để xử lý sau là phù hợp.

[11] Đối với người đàn ông tên H7 và người thanh niên giao ma túy cho Trần Văn D2 hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau là phù hợp.

[12] Đối với Lưu Thanh Q1 sử dụng số điện thoại 0933.908.xxx và chủ tài khoản 07506719999 ngân hàng T3 qua xác minh Q1 không có mặt tại địa phương, chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[13] Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 pro gắn sim số 0918068168 của Trần Văn D2, 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 pro gắn sim số 0396198072 của Hà Văn H2, 01 (một) điện thoại di động Oppo màu xanh gắn sim số 0589087285 của Bùi Anh H1, 01 (một) điện thoại di động Iphone màu đen gắn sim số 0347246798 của Hoàng Thế A, 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 gắn sim số 0908232369 của Võ Trường G, 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs màu đen gắn sim số 0763275877 của Đào Hà Cẩm T. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã bán, hiện không thu hồi được nên không đặt ra xem xét là phù hợp.

[14] Xét, quan điểm của người bào chữa cho bị cáo T và H4 đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo là có căn cứ chấp nhận một phần.

[15] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[16] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo Hoàng Thế A, Dương Hoàng Anh K1, Võ Trường G, Bùi Anh H1, Đào Hà Cẩm T, Đoàn Ngọc H4, Hà Văn H2 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thế A, Dương Hoàng Anh K1, Võ Trường G, Bùi Anh H1, Đào Hà Cẩm T, Đoàn Ngọc H4, Hà Văn H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

1.1 Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thế A 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023.

1.2 Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Hoàng Anh K1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2023,

Xử phạt bị cáo Võ Trường G 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2023

Xử phạt bị cáo Bùi A1 Hào 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2023.

1.3 Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 90, 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Hà Cẩm T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2023.

1.3 Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90, 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc H4 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2023.

1.5 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Văn H2 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái loa, 01 (một) đèn chớp, 01 (một) cái đĩa, 01 (một) thẻ cào màu xanh B2, sim số 0969188421.
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) không còn nguyên vẹn, 01 điện thoại Oppo màu bạc.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/2/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Hoàng Thế A, Dương Hoàng Anh K1, Võ Trường G, Bùi Anh H1, Đào Hà Cẩm T, Đoàn Ngọc H4, Hà Văn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).

4. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Số: 39/2024/TB-TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Dĩ An, ngày 15 tháng 7 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 186/2024/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương có sai sót trong khâu đánh máy cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

2. Về nội dung:

1.1/ Tại dòng thứ 20 từ dưới lên trang 02 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“………giữ, tạm giam từ 07/12/2023 đến nay; (Có mặt).”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

“ tạm giam từ 20/12/2023 đến nay; (Có mặt).”

1.2/ Tại dòng thứ 09 từ dưới lên trang 02 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“lớp 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

“lớp 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam”.

1.3/ Tại dòng thứ 03 và 04 từ trên xuống trang 13 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“Xử phạt bị cáo Hà Văn H2 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2023".

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

“Xử phạt bị cáo Hà Văn H2 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2023".

2. Các nội dung khác của bản án không thay đổi.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 186/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Hoàng Anh K cùng đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger