Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 186/2024/DS-ST.

Ngày: 23.9.2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trịnh Ngọc Hồng
  2. Bà Nguyễn Thị Bé Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Vào ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 222/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim P, sinh năm 1962. Địa chỉ: 5 ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1972. Địa chỉ: E ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1941. Địa chỉ: A ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Bà P có mặt. Bà T và ông C vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Kim P trình bày:

Trước đây, bà Nguyễn Thị Kim T có hỏi vay tiền của bà để sử dụng cho mục đích điều trị bệnh cho cha của bà T là ông Nguyễn Văn C.

Ngày 12/08/2023 bà T ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với bà để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bà đối với khoản vay 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Theo đó, bà T thế chấp quyền sử dụng đất cùng toàn bộ các tài sản gắn liền đối với thửa đất số 317, tờ số 5, tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn C (ba ruột của bà T) ngày 29/10/2018.

Trong hợp đồng thế chấp được ký kết, hai bên thỏa thuận lãi suất là 5%/tháng, mỗi tháng đóng 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Thời hạn vay tiền là 1 tháng kể từ ngày 12/08/2023 đến ngày 12/09/2023. Bên vay tiền có nghĩa vụ trả tiền gốc cho bên cho vay tiền một lần khi hết hạn hợp đồng, trả lãi vào ngày 12 dương lịch hàng tháng.

Cùng ngày 12/08/2023, bà đã giao đủ số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đông) cho bà T, bà T cũng đã nhận đầy đủ số tiền từ bà và giao cho bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để bà giữ.

Nhưng sau đó đến hạn trả lãi và thanh toán nợ tức là ngày 12/09/2023 nhưng bà T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán lãi và nợ gốc cho bà như đã thỏa thuận. Sau nhiều lần yêu cầu bà T thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà nhưng bà T luôn trì hoãn, kéo dài, hứa hẹn nhiều lần mà không thực hiện.

Cho đến nay, cũng không có bất kỳ động thái nào về việc trả nợ. Việc này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

Vì vậy, nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Buộc bà Nguyễn Thị Kim T phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà toàn bộ số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
  • Buộc bà Nguyễn Thị Kim T phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà tiền lãi trên nợ gốc đối với số tiền 20.000.000 đồng kể từ ngày 12/08/2023 đến khi vụ án được xét xử sơ thẩm quy định của pháp luật.

Đối với ông Nguyễn Văn C: bà không có yêu cầu gì liên quan đến trách nhiệm của ông C vì việc bà T thế chấp quyền sử dụng đất của ông C cho bà thì ông C không biết.

Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tiến hành tống đạt theo đúng quy định các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm; Quyết định hoãn phiên toà và các giấy triệu tập của Toà án nhưng bà Nguyễn Thị Kim T và ông Nguyễn Văn C vắng mặt không lý do nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bà Phạm Thị Kim P khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim T có nghĩa vụ trả cho ông số tiền vay là 20.000.000 đồng nên quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên Toà án nhân dân thành phố Bến Tre căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để thụ lý giải quyết vụ án.

Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T trả số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật.

Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn là Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 12/8/2023, có chữ ký của bà Nguyễn Thị Kim T. Đây là chứng cứ theo quy định khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, nguyên đơn cung cấp thì nguyên đơn không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nội dung Hợp đồng thể hiện, bà T có vay của bà P số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 5%/ tháng, thời hạn vay 01 tháng, bà T thế chấp cho bà P Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 317, tờ số 5, tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn C.

Hội đồng xét xử xét thấy, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký giữa bà P và bà T không tuân thủ quy định đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại các Điều 167, 168, 188 Luật đất đai năm 2013, bà P cũng thừa nhận nội dung có giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C nhưng ông C không biết và không liên quan gì đối với việc bà T vay số tiền 20.000.000 đồng của bà, bà P không yêu cầu ông C chịu trách nhiệm trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm của ông C.

Ông C cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không thể hiện yêu cầu gì liên quan đến việc bà P đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 317, tờ số 5, tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với việc bà P đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C. Nếu có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Như vậy, đã có đủ cơ sở Hội đồng xét xử xác định: Ngày 12/8/2023, bà Nguyễn Thị Kim T có của bà Phạm Thị Kim P số tiền 20.000.000 đồng. Thời hạn vay 01 tháng, đến ngày 12/9/2023 bà T phải có trách nhiệm trả số tiền trên cho bà P. Tuy nhiên, khi hết thời hạn theo thỏa thuận, bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là đã vi phạm sự thỏa thuận giữa các bên theo quy định tại Điều 463; khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ trả nợ của bên vay phải trả đủ tiền khi đến hạn.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà P đối với yêu cầu bị đơn T chịu trách nhiệm trả số tiền 20.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi số tiền 20.000.000 đồng từ ngày 12/8/2023 đến ngày xét xử theo quy định của pháp luật: Hội đồng xét xử xét thấy, các bên thỏa thuận lãi suất 5%/tháng là vượt quá quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 468 (không vượt quá 20%/năm), do đó mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Số tiền lãi được tính như sau: 20.000.000 đồng x 13 tháng 13 ngày x 20%/năm = 4.445.000 đồng.

Tổng cộng vốn và lãi bị đơn bà T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là: 20.000.000 đồng + 4.445.000 đồng = 24.445.000 đồng

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu là 1.122.000 đồng đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 357, 429; 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015;Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim P. Buộc bà Nguyễn Thị Kim T chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà Phạm Thị Kim P số tiền 24.445.000 (Hai mươi bốn triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu là 1.122.000 (Một triệu một trăm hai mươi hai nghìn) đồng.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Bến Tre.
  • - TAND tỉnh Bến Tre.
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Xuân Thi

(đã ký)

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Ngọc Hồng

Nguyễn Thị Bé Em

Phạm Thị Xuân Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 186/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Bà Phạm Thị Kim Pvà bà Nguyễn Thị Kim T, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger