|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 186/2025/HS-ST Ngày: 05 – 11 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Tín.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Công;
- Bà Trần Ngọc Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 181/2025/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Số CCCD: [...]; nơi cư trú: Số G, Tổ A, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Đặng Thị Ngọc T1 (đã chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim O và 02 người con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 12/4/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 08 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Bản án số 80/2010/HSST ngày 12/4/2010, đã được xóa án tích. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2025 đến nay. Có mặt.
Bị hại:
Bà Đoàn Thị Hồng H, sinh năm 1983; địa chỉ: Số E, Đường F, Khu phố C, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1975; địa chỉ: Số B khu phố N, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Văn B1, Cao Quốc K, Lê Minh T2. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 08 năm 2016, bà Đoàn Thị Hồng H có chồng là Lê Minh Hậu B2 Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Sau khi biết việc chồng bị bắt, bà H hỏi Cao Quốc K là hàng xóm của bà H có cách nào xin cho chồng là H1 được tại ngoại và không bị xử lý hình sự, sau đó thì K có nhờ chú họ là ông Nguyễn Văn B1 tìm người có thể giúp bà H. Do bản thân ông B1 trước đây làm nghề tài xế lái xe ô tô, thường ghé quán cà phê của Trần Văn T uống cà phê và có nghe T nói có quen biết nhiều người và có khả năng xin không phải chấp hành án tù nên ông B1 giới thiệu cho bà H đến gặp T.
Ngày 05 tháng 9 năm 2016, tại bàn ghế đá bên hông nhà ông B1 tại khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, T đến gặp bà H, B1, K và ông Lê Minh T2 (là anh chồng của bà H). Tại đây, T nói sẽ xin được cho chồng bà H không bị xử lý hình sự và yêu cầu bà H đưa tiền cho T số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng). Bà H đã đưa trước cho T số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Sau khi nhận tiền của bà H, Thi viết và giao cho bà H 01 giấy biên nhận, xác nhận có nhận của bà H số tiền 60.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 10 năm 2016, T nói với bà H vụ việc đã lo xong và đến nhà bà H tại địa chỉ: E đường số F, khu phố A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh nhận thêm 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Đến ngày 09/12/2016, ông Lê Minh H1 là chồng bà H bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do T đã nhận tiền và hứa lo cho chồng không bị xử lý nhưng ông Lê Minh H1 vẫn bị phạt tù nên bà H liên hệ T để đòi tiền nhưng T trốn tránh, không trả tiền cho bà H.
Ngày 13 tháng 01 năm 2017, ông Trần Văn A là anh ruột của T hứa sẽ trả tiền cho bà H thay T và viết cho bà H giấy mượn số tiền 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). Tuy nhiên, ông A vẫn không có khả năng trả tiền cho bà H. Ngày 25/10/2018, bà H đến Công an phường Đ trình báo sự việc bị T lừa đảo chiếm đoạt số tiền 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKS -TA ngày 05/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.
Toàn bộ lời khai của bị cáo tại phiên toà và quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và thống nhất với nội dung truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Vào ngày 05 tháng 9 năm 2016, tại bàn ghế đá bên hông nhà ông Nguyễn Văn Bình địa C: Số A khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh và khoảng tháng 10 năm 2016 tại nhà của bà H địa chỉ: Số E, Đường số F, Khu phố A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn T không phải là người có chức vụ, quyền hạn gì nhưng đã đưa ra thông tin gian dối là có thể lo giúp cho chồng của bà Đoàn Thị Hồng H là ông Lê Minh H1 không bị xử lý hình sự, làm cho bà H tin tưởng giao cho bị cáo T tổng số tiền 75.000.000 đồng rồi sau đó chiếm đoạt.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đang nuôi con bị rối loạn tâm thần, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim O, là vợ của bị cáo Trần Văn T, đã bồi thường cho bị hại bà Đoàn Thị Hồng H số tiền 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). Bà H không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên không xem xét.
[6] Đối với ông Nguyễn Văn B1 giới thiệu bà H gặp T để lo cho chồng bà H. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định ông Nguyễn Văn B1 không hưởng được lợi ích vật chất, không biết T có hành vi lừa đảo, bản thân B1 sau khi biết T chiếm đoạt tiền của bà H đã dẫn bà H đi tìm T để đòi tiền. Hành vi của B1 không đồng phạm với T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với B1 là phù hợp.
Đối với Cao Quốc K có mối quan hệ bà con với B1, khi nghe bà H nhờ tìm người lo cho H1 là người hàng xóm nên giới thiệu B1 gặp bà H nhưng không hưởng được lợi ích vật chất và không biết T có hành vi lừa đảo nên không đồng phạm với T, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với K là phù hợp.
Đối với ông Trần Văn A là anh ruột của T đã viết giấy mượn nợ và cam kết trả tiền thay cho T. Qua xác minh tại địa chỉ số A T, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh được biết căn nhà của ông A đã bị giải tỏa, ông A và gia đình không còn sinh sống tại địa chỉ trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được với ông A, đồng thời ông A cũng không có dấu hiệu đồng phạm với T về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà H.
[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo là đúng pháp luật, tuy nhiên mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo là tương đối nghiêm khắc nên cần xem xét quyết định hình phạt phù hợp đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
-
Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
-
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/6/2025.
-
Về án phí:
Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trung Tín |
Bản án số 186/2025/HS-ST ngày 05/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 186/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Th
