TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự Do – Hạnh phúc |
Bản án số:186/2024/HS – ST
Ngày:05-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Khel
Bà Nguyễn Bạch Nhạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:184/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:173/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Tăng Hồng N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993; Nơi sinh: M, Sóc Trăng; Tên gọi khác: Mực; Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú hiện nay: ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Khmer; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Tăng Hồng H và bà Lâm Thị N1; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/10/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 08 (tám) tháng tù giam về “Tội trộm cắp tài sản” và chấp hành xong hình phạt ngày 27/01/2022 (đã được xóa án tích); Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/9/2024 cho đến nay. (Có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo (Giám hộ): Bà Lâm Thị N1, sinh năm 1963. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Văn Đ – Văn phòng luật sư Huỳnh Ánh T, thuộc đoàn luật sư tỉnh S. Địa chỉ: Số G, đường N, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Thị Mộng N2, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số B, đường V, khóm A, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. ( Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 29/6/2024, Tăng Hồng N từ nhà ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, đi bộ trên tuyến Quốc Lộ I hướng thành phố S, đi đến ngã ba T quẹo phải vào đường H, khi đến khách sạn T3, tại số B, đường H, khóm A, phường F, thành phố S, N phát hiện khách sạn không đóng cửa rào, N đi vào đến cửa chính nhìn vào, thấy Nguyễn Văn T1 là bảo vệ đang ngủ, N đi ngang vị trí T1 đang ngủ vào bằng cửa hông đi vào sảnh lễ tân nhìn thấy Lê Thanh T2 là quản lý khách sạn đang nằm ngủ trên ghế sofa. N lén lút đi vào nhà lấy tài sản gồm: 01 cục sạc dự phòng màu đen, 01 quẹt zippo của T2 và lấy máy tính xách tay của bà Nguyễn Thị Mộng N2 là chủ khách sạn, sau khi lấy được tài sản N phát hiện sạc dự phòng bị phù pin, quẹt zippo quẹt không cháy nên N bỏ sạc dự phòng và quẹt zippo vào thùng rác, N tiếp tục đi bộ hướng ra ngã ba T và đem máy tính xách tay bán cho bà Đoàn Thị Tuyết N3 với số tiền 500.000 đồng, khi bán máy tính có tiền N đã tiêu xài cá nhân hết. Tại Cơ quan điều tra N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 60 ngày 15 tháng 7 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, kết luận: 01 (một) máy tính xách tay, hiệu Dell Inspiron 16 5640, Core E,16GB, xanh(Ice Blie), đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 99%, với giá là 27.126.990 đồng.
Căn cứ Công văn số: 10/TC-KH ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng kết luận: 01 (Một) sạc dự phòng màu đen, không rõ nhãn hiệu, không còn hóa đơn, không thu hồi được; 01 (Một) quẹt Zippo màu trắng sữa, không nhãn hiệu, không có hóa đơn, không thu hồi được. Do tài sản yêu cầu định giá không có hóa đơn, không có nhãn hiệu, nên Hội đồng định giá không có đủ cơ sở để định giá tài sản.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tâm thần số 426 ngày 17/10/2024 của Trung tâm P, kết luận: về y học trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại thì Tăng Hồng N có bệnh lý tâm thần do chậm phát triển tâm thần nhẹ; Về năng lực thì tại thời điểm phạm tội và hiện tại thì N bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Về trách nhiệm hình sự: tại thời điểm phạm tội và hiện tại N có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 (Một) máy tính xách tay, hiệu D 16 5640, Core E,16GB, xanh(I). Sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trao trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Mộng N2 tài sản nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Mộng N2 và bà Đoàn Thị Tuyết N3 không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự.
Tại bản cáo trạng số 185/CT-VKS.TPST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Tăng Hồng N về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Đề nghị tuyên bố bị cáo Tăng Hồng N phạm Tội trộm cắp tài sản và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Tăng Hồng N từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bị cáo Tăng Hồng N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Người đại diện hợp pháp của bị cáo bà Lâm Thị N1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa thống nhất với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác của vụ án mà kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn và bị cáo là người dân tộc Khmer, không biết chữ, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức hình phạt 06 tháng tù, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, chấp hành án.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thành phố S trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] [Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại bà Nguyễn Thị Mộng N2. Xét thấy, trong quá trình điều tra vụ án, bị hại đã có lời khai cụ thể, đầy đủ, rõ ràng và bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Nên Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định chung.
[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Tăng Hồng N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của bị cáo như nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng. Xét lời nhận tội của bị cáo Tăng Hồng N tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong vụ án; các biên bản khám nghiệm hiện trường, các bản ảnh hiện trường, bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Tăng Hồng N là người không có nghề nghiệp, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, với tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được định giá là 27.126.990 đồng, nên hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của bị cáo Tăng Hồng N đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo Tăng Hồng N là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết những tài sản trên là của bị hại, nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt trái pháp luật nên bị cáo phải chịu hậu quả pháp lý về trách nhiệm hình sự về hành vi của mình đã thực hiện, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 27.126.990 đồng. Do đó, cáo trạng nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, đã truy tố bị cáo Tăng Hồng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và không làm oan, sai cho bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm hại đến tài sản bị hại một cách trái pháp luật mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội ở địa phương, làm cho người dân nơi bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản không an tâm lao động, sản xuất. Cụ thể, là đối với loại tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố S nói riêng và nhiều địa phương khác nói chung luôn gây bức xúc cho xã hội, bản thân bị cáo đã từng bị kết án phạt tù về hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nhưng không sửa đổi, nên lần phạm tội này cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Trước khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, để cụ thể hóa hình phạt đối với bị cáo như sau: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có nhân thân xấu đã bị kết án phạt tù về tội trộm cắp tài sản và trong quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc Khmer, không biết chữ, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt mà đáng lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về trách nhiệm dân sự của vụ án: Tài sản đã được Cơ quan điều tra, Công an thành phố S thu hồi và trả lại cho bị hại, bị hại chị N2 không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã xử lý xong, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác của vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ một phần, được Hội đồng xét xử chấp nhận như đã nhận định phân tích nêu trên.
Về án phí: Bị cáo Tăng Hồng N là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 136; Điều 333 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Tăng Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Tăng Hồng N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bắt chấp hành án.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự của vụ án: Bị hại không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã xử lý xong, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Tăng Hồng N là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết công khai, hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Kim Sa Pha |
Bản án số 186/2024/HS – ST ngày 05/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 186/2024/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VỤ việc xảy ra trên phường 10, thành phố Sóc Trăng
