Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt và ông Lý Tuấn Phong.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 190/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Thông báo dời thời gian xét xử ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Trần H, sinh năm: 1987, tại thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: số B, tổ B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Trần Thị L; bị cáo chưa có vợ, con;

Nhân thân:

  • + Ngày 12 tháng 12 năm 2013, bị Ủy ban nhân dân thành phố L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội tỉnh A, thời gian 24 tháng, đến ngày 30 tháng 9 năm 2015 chấp hành xong.
  • + Ngày 19 tháng 5 năm 2017, bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 19 tháng 02 năm 2018 chấp hành xong.
  • + Ngày 23 tháng 7 năm 2019, bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng đến ngày 26 tháng 3 năm 2020 chấp hành xong.

2

  • - Tiền án: Không.
  • - Tiền sự: Ngày 04 tháng 7 năm 2022, bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 17 tháng đến ngày 29 tháng 9 năm 2023 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).

  • - Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Trần H: Luật sư Phan Văn Đ, sinh năm: 1954, Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; Địa chỉ: số A, lô F, đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  • - Bị hại: Ông Phan Văn K, sinh năm: 1967; Địa chỉ: số B, ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ. ĐT: 0962.911.xxx; 0920.670.144 (có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Ông Đỗ Văn T, sinh năm: 1956; Địa chỉ: số B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0971.531.xxx (có mặt).
    • + Bà Trần Thị Lệ H1, sinh năm: 1977; Địa chỉ: số B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0848.865.xxx (có mặt).
    • + Ông Võ Thanh B, sinh năm: 1993; Địa chỉ: số B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0346.953.xxx (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 24 tháng 6 năm 2024, Đỗ Trần H ngồi trên đường H thuộc tổ B khóm Đ, phường M, thành phố L thì thấy anh Phan Văn K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu honda, Wave alpha, màu xanh đen bạc, biển số 65L1-363.80 (xe mô tô 65L1-363.80) từ Quốc lộ I vào. H bảo anh K dừng lại nhưng anh K không ngừng, thì H chạy bộ theo kêu anh K dừng lại. Khi anh K dừng xe lại thì H dùng tay đánh, dùng chân đạp nhiều cái vào người anh K và nói “Tao hỏi mày không trả lời” làm anh K hoảng sợ bỏ xe ngã xuống đường rồi bỏ chạy khoảng 10 mét, thì H nói “tao lấy xe mày luôn”. Sau đó, H điều khiển xe mô tô 65L1-363.80 đến khu vực gần nhà trọ 999 thuộc phường M thì dừng lại, phát hiện trong cốp xe mô tô 65L1-363.80 có 490.000 đồng, nên H lấy tiền để vào túi và điều khiển xe trên gặp T1 (không rõ họ, địa chỉ) mua 200.000 đồng ma túy đá để sử dụng, rồi điều khiển xe mô tô 65L1-363.80 đến nhà anh Võ Thanh B, chị Trần Thị Lệ H1, số B, khóm Đ, phường M, thành phố L, cách nhà H khoảng 40 mét, dẫn xe để xe mô tô 65L1-363.80 vào nhà anh B, chị H1 cất giấu rồi đi về nhà.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, Đỗ Trần H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L bắt khẩn cấp.

3

  • * Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu honda, Wave alpha, màu xanh đen bạc, số khung 3917LY148943, số máy JA39E1486801, biển số 65L1-363.80 (do B giao nộp đã trả lại bị hại K); 01 điện thoại di động hiệu ViVo có gắn thẻ sim; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu trắng (do H giao nộp); T2 trên người của Đỗ Trần H 345.000 đồng (đã trả lại cho bị hại K).
  • * Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 1064/KL- HDĐGTS ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố L, xác định: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu honda, Wave alpha, màu xanh đen bạc, số khung 3917LY148943, số máy JA39E1486801, biển số 65L1-363.80, trị giá 11.263.000 đồng.
  • * Kết luận số 981/KL-KTHS ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Phòng K1, Công an tỉnh A: Trích xuất 11 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa CD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố L, tỉnh An Giang gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo. Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục gồm 05 trang A4.
  • * Kết luận giám định pháp y tâm thần số 359/2024/KLGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Trung tâm P đối với Đỗ Trần H, sinh năm 1987 xác định như sau:
    • - Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng các chất kích thích (F15.71 - ICD10).
    • - Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Ông Phan Văn K khai phù hợp như nội dung vụ án đã nêu. Anh K đã nhận lại xe mô tô 65L1-363.80 cùng số tiền 345.000 đồng do Cơ quan điều tra thu giữ và nhận 145.000 đồng do H và gia đình bồi thường, xin giảm nhẹ hình phạt cho H.

Nguyễn Hoàng M, Nguyễn Thị Hoàng A trình bày: Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 24 tháng 6 năm 2024, thấy H dùng tay phải đánh vào lưng và dùng chân đạp anh K làm cho ông K và xe ngã xuống đường, ông K bỏ chạy, thì H điều khiển xe của ông K chạy đi.

Bà Trần Thị Lệ H1, ông Võ Thanh B trình bày: Khoảng 19 giờ ngày 24 tháng 6 năm 2024, thấy H đem xe mô tô 65L1-363.80 để trong nhà của bà H1, ông B, nghi vấn xe do phạm tội mà có nên bà H1 và ông B đã giao nộp xe cho Công an.

Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H2 Tại Cáo trạng số 198/CT-VKSLX ngày 04/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Đỗ Trần H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đỗ Trần H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

4

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Trần H mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu ViVo đã qua sử dụng; 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng và 01 sim điện thoại VN mobile do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội cướp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử có quan tâm, xem xét cho bị cáo cho các tình tiết giảm nhẹ sau: bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp với hành vi phạm tội và tạo điều kiện cho bị cáo làm lại cuộc đời, chăm sóc, phụng dưỡng cha đang bị bệnh hiểm nghèo.

Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, Đỗ Trần H đã thực hiện hành vi dùng tay đánh,

5

dùng chân đạp nhiều cái vào người anh Phan Văn K làm cho ông K không thể kháng cự, bỏ chạy để chiếm đoạt xe mô tô trị giá 11.263.000 đồng và 490.000 đồng của ông K, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 11.753.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã trưởng thành, tại thời điểm phạm tội tuy bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng vẫn có khả năng phân biệt được việc nào đúng, việc nào sai và điều khiển được hành vi, nhận thức của mình. Lẽ ra, bị cáo phải cố gắng siêng năng lao động, tìm cho mình một công việc phù hợp để nuôi sống bản thân và giúp ích cho gia đình, xã hội. Trái lại, chỉ vì muốn có tiền để mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân bị cáo đã dùng vũ lực tấn công bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị tài sản là 11.753.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo động viên gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại; tại thời điểm phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định.

Xét thấy, trong vụ án này hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, tính chất của vụ án là nghiêm trọng, trước khi phạm tội bị cáo đã từng nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

6

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã động viên gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu ViVo đã qua sử dụng; 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng và 01 sim điện thoại VN mobile do không liên quan đến hành vi phạm tội (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).

[8] Đối với người bán ma túy cho H chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Trần H phạm tội “Cướp tài sản”.

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Đỗ Trần H 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 25/6/2024).

[2] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu ViVo đã qua sử dụng; 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng và 01 sim điện thoại VN mobile (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).

[3] Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đỗ Trần H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi

7

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội cướp tài sản

  • Số bản án: 186/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ trần huy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger