Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2024/HS-PT

Ngày: 30/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như.

Các Thẩm phán:

1. Ông Mai Nam Tiến

2. Ông Phạm Trường Du

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Thiều Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 252/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 do Bản án hình sự sơ thẩm số: 285/2024 /HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2024/QĐXXPT-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với:

* Bị cáo kháng cáo họ và tên: Trương Văn S; sinh ngày: 16/10/1997 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD : [...] ; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn L (đã chết); Con bà Trịnh Thị T; Vợ là Hoàng Thị A; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2023, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Trương Văn S không bị tạm giữ, tạm giam. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 04/4/2024, Trương Văn S có giấy phép lái xe hợp lệ (hạng C) điều khiển xe ô tô, loại xe bồn, BKS: 36CD-001.50, chủ xe là Công ty TNHH S1, ở số E phố Đ, phường A, thành phố T chạy trên đường L, theo hướng thành phố T đi thành phố S, khi đến khu vực ngã 3 giao nhau giữa đường L với đường T, thuộc phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, là nơi có tín hiệu đèn giao thông, khi đèn tín hiệu màu xanh thì S điều khiển xe rẽ phải vào đường T, do không chú ý quan sát và không đảm bảo an toàn nên đã đâm vào đuôi xe mô tô BKS: 36N1- 097.17 do ông Văn Thế X, sinh năm 1963, trú tại tổ dân phố B, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa điều khiển chạy cùng chiều phía trước, bên phải. Hậu quả làm ông X bị tử vong tại chỗ.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện lên quan đến vụ tai nạn giao thông, giám định nồng độ cồn và ma tuý, giám định thương tích, xác định như sau:

Về hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại ngã ba giao nhau giữa đường L - T, thuộc phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Hướng Đ đi thành phố S, hướng T đi cầu L, hướng T đi Đại lộ V.

Mặt đường được rải nhựa tương đối bằng phẳng. Đường L rộng 12m, có vạch kẻ đường ở giữa phân chia đường thành 02 làn bằng nhau dành cho 02 chiều phương tiện lưu thông. Đường T có dải phân cách cứng ở giữa phân chia đường thành 02 chiều phương tiện lưu thông riêng biệt, mỗi làn đường rộng 7m, mép đường tiếp giáp dải phân cách rộng 0,5m.

Mở rộng hiện trường: Trước ngã ba ở các chiều phương tiện lưu thông có đặt hệ thống đèn tín hiệu giao thông hoạt động bình thường. Từ ngã ba về hướng cầu L 50m không phát hiện biển báo giao thông nào.

Lấy góc phía Đông số nhà D L làm điểm mốc (ký hiệu A); lấy mép phía T đường L làm mép chuẩn thứ nhất (ký hiệu B); lấy mép phía T đường T (làn đường dành cho chiều phương tiện lưu thông đi hướng Đại lộ V) làm mép chuẩn thứ hai (ký hiệu C). Tiến hành đo đạc, khám nghiệm hiện trường, ghi nhận vị trí các phương tiện, dấu vết, vật chứng, nạn nhân như sau:

(1) Cách điểm (A) theo chiều T1 - Đông 11,7m; cách mép (B) theo chiều Đ - Tây Nam 2,1m; cách mép (C) T - Đông Nam 1,6m trên mặt đường là điểm đầu chùm vết tỷ, cà trượt không liên tục, không rõ hình, kích thước trong diện (15x1,3)cm. Vết có chiều hình cung từ Đông Bắc qua T, cuối vết trùng với vị trí xe mô tô BKS 36N1-097.17.

(2) Vị trí xe mô tô BKS 36N1-097.17 ngã phải trên mặt đường T Đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. T2 trục bánh trước cách mép (C) 3,5m; tâm trục bánh sau cách mép (C) 3,9m.

(3) Vị trí nạn nhân nằm nghiêng phải trên mặt đường T Đầu hướng T, cách mép (C) 2,6m, cách hình chiếu tâm trục bánh sau cùng bên phải xe ô tô BKS 36CD-001.50 theo chiều T - Đông Nam 0,8m; hai tay co về phía Tây Nam; hai chân duỗi về phía Đ.

(4) Cách đầu vết (1) theo chiều B hơi chếch Tây 6,2m, cách mép (C) 5,4m là điểm đầu vết tỳ trượt, kích thước trong diện (2,6x0,6)m. Vết có chiều Đ - T. Bề mặt vết bám dính chất màu đen dạng cao su. Cuối vết trùng với vị trí hình chiếu tâm trục 02 bánh xe sau cùng bên trái xe ô tô BKS 36CD-001.50.

(5) Vị trí dừng cuối cùng của xe BKS 36CD-001.50 trên mặt đường T Đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Bắc. Hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải cách mép (C) 3m; hình chiếu tâm trục bánh sau cùng phía ngoài bên phải cách mép (C) 3,2m.

Về phương tiện:

Tại Bản kết luận giám định số 1711/KL-KTHS ngày 26/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt ngoài bên phải ba đờ xốc trước xe ô tô BKS 36CD - 001.50 (ảnh 5, 6) với mặt ngoài dưới bên trái tay nâng xe mô tô BKS 36N1-097.17 (ảnh 21, 22).

- Tại thời điểm va chạm, xe ô tô BKS 36CD-001.50 chuyển động cùng chiều, từ trái sang phải so với chuyển động của xe mô tô BKS 36N1-097.17.

- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết tỷ, cà trượt số (1), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trong khu vực ngã ba giao nhau giữa đường L và đường T

- Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm va chạm.

Về tử thi: Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1584/KLGĐTT-PC09 ngày 18/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết đối với Văn Thế X: Đa chấn thương.

Về nồng độ cồn và ma tuý và kết quả làm việc với lái xe Trương Văn S: Không có nồng độ cồn trong khí thở và nước tiểu âm tính với các chất ma tuý.

Về phần dân sự: Lái xe Trương Văn S cùng với đại diện Công ty TNHH S1 đã tự thỏa thuận và bồi thường cho gia đình nạn nhân Văn Thế Xinh tổng số tiền 280.000.000 đồng. Anh Văn Thế B là người đại diện gia đình nạn nhân có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trương Văn S.

Đối với vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô BKS 36CD - 001.50 và xe mô tô BKS: 36N1- 097.17 cùng các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 285/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:

Căn cứ vào: điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn S phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn S 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ thi hành án, án phí, xử lý vật chứng, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo và các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/8/2024 (trong hạn luật định) bị cáo Trương Văn S kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo Trương Văn S cũng thừa nhận hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, bị cáo xin được hưởng mức án treo để được cải tạo tại địa phương.

Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về hình thức: Bị cáo Trương Văn S nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới được quy định khoản 2 Điều 51 BLHS đó là: Bị cáo đã ủng hộ đồng bào bị bão lụt 1.000.000đ, ủng hộ tiền xây dựng nhà cho người nghèo 1.000.000đ. Có xác nhận của UBND xã H bị cáo có nơi cư trú rõ ràng là lao động chính trong nhà và gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo mất sớm, mẹ bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo, vợ thường xuyên đau yếu, hai con còn rất nhỏ.

Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng nên việc cách ly bị cáo khỏi xã hội là chưa cần thiết, kháng cáo xin được hưởng án treo là có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận một phần kháng cáo, giữ nguyên hình phạt 15 tháng tù nhưng cho bị cáo Trương Văn S được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

Lời nói sau cùng bị cáo Trương Văn S đã biết lỗi, rất hối hận về việc làm của mình, rất mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng và thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Văn S trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Tại phiên tòa bị cáo không rút đơn kháng cáo, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trương Văn S thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 04/4/2024, Trương Văn S có giấy phép lái xe hợp lệ (hạng C) điều khiển xe ô tô, loại xe bồn, BKS: 36CD-001.50 chạy trên đường L, theo hướng thành phố T đi thành phố S, khi đến khu vực ngã 3 giao nhau giữa đường L với đường T, thuộc phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, là nơi có tín hiệu đèn giao thông, khi đèn tín hiệu màu xanh thì S điều khiển xe rẽ phải vào đường T, do không chú ý quan sát và không đảm bảo an toàn nên đã đâm vào đuôi xe mô tô BKS: 36N1- 097.17 do ông Văn Thế X điều khiển chạy cùng chiều phía trước, bên phải. Hậu quả làm ông X bị tử vong tại chỗ, do: Đa chấn thương.

Bị cáo Trương Văn S có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô (xe trộn bê tông) là nguồn nguy hiểm cao độ, khi chuyển hướng thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo các điều kiện an toàn nên đã gây tai nạn làm người bị hại tử vong đã vi phạm vào khoản 2 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn giao thông và tính mạng của người khác. Bị cáo phải chịu hình phạt là 15 (mười lăm) tháng tù như cấp sơ thẩm đã quyết định là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Trương Văn S xin được hưởng án treo: Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, bồi thường toàn bộ chi phí thiệt hại cho bị hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đến Công an thành phố T đầu thú, chính quyền địa phương xác nhận bị cáo và gia đình luôn chấp hành các quy định tại địa phương, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo xuất trình 02 phiếu thu tiền bị cáo đã ủng hộ đồng bào bị bão lụt 1.000.000đ, ủng hộ tiền xây dựng nhà cho người nghèo 1.000.000đ. Có xác nhận của UBND xã H bị cáo có nơi cư trú rõ ràng là lao động chính trong nhà và gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo mất sớm, mẹ bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo, vợ thường xuyên đau yếu, hai con còn rất nhỏ là những tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Xét thấy: Bị cáo Trương Văn S phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, áp dụng Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn S và theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xem xét cho bị cáo S được cải tạo tại địa phương được hưởng án treo, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung tội phạm.

Từ các phân tích đánh giá nêu trên, HĐXX xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, cần sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.

[4] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trương Văn S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Văn S. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 285/2024/HSST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa như sau:

    Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Điều 136 của BLTTHS; Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt: Trương Văn S 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Trương Văn S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian bị cáo thử thách án treo.

    Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người đang chấp hành án treo chuyển đi nơi khác thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc thành phố để Công an làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục và thông báo bằng văn bản cho Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự).

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

  2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trương Văn S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - Công an TP Thanh Hóa. TH;
  • - TAND, VKSND TP Thanh Hóa. TH;
  • - Chi cục THADS TP Thanh Hóa.TH;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Lê Thị Tố Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 186/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger