|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 186/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư - Cán bộ hưu.
- Ông Hoàng Văn Tuân - Giáo viên trường THCS Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 172/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/HSST-QĐ ngày 07/9/2024 đối với các bị cáo:
-
Lành Văn T, sinh năm 2003.
Quê quán: Thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Số nhà B, ngõ A, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Lành Văn T1, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1983; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 13/8/2019 bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng thủ đoạn để buộc người khác đưa tiền.
- + Ngày 26/7/2020 bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên toà).
-
Hà Văn D1, sinh ngày 15/9/2006.
Quê quán: Thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Số nhà A, ngõ H, đường N, tổ dân phố T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Hà Văn T2, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1985; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 223 ngày 24/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm 06 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. (D1 bị tạm giữ từ ngày 04/6/2023 đến ngày 08/6/2023, thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi phạm tội).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên toà).
-
Nguyễn Tiến T3, sinh ngày 12/6/2006.
Quê quán: Thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Số nhà B, ngách F, ngõ H, đường Đ, tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1983; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên toà).
-
Hà Văn Đ1, sinh ngày 22/4/2006.
Quê quán: Thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Hà Văn B, sinh năm 1974 và bà Hà Thị D2, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên toà).
* Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn D1: Bà Nguyễn Thị M – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến T3: Ông Phan Văn T5 và ông Nguyễn Trung Đ2 – Luật sư Văn phòng Luật sư Phan T5 và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh B (Ông T5 và ông Đ2 đều có mặt).
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Văn D1: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1985 và ông Hà Văn T2, sinh năm 1982; Đều địa chỉ: Số nhà A, ngõ H, đường N, tổ dân phố T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Ông T2 và bà Đ đều có mặt).
* Bị hại: Cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 08/12/2006 (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Ngọc H: Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Số nhà D, ngõ I, đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Văn C, sinh năm 1997 (Vắng mặt);
- Cháu Lành Phương T6, sinh ngày 21/10/2008 (Có mặt).
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1979 (Có mặt) ;
- Ông Hà Văn B, sinh năm 1974 (Có mặt);
- Ông Hà Văn T2, sinh năm 1982 (Có mặt);
- Ông Lành Văn T1, sinh năm 1979 (Có mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp của cháu Lành Phương T6: Ông Lành Văn T1, sinh năm 1979 (Có mặt).
Đều địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, đường N, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà B, ngách F, ngõ H, đường Đ, tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà A, ngõ H, đường N, tổ dân phố T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, đường N, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Cháu Ngô Hoàng H1, sinh ngày 28/06/2008 (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh ngày 10/3/2006 (Vắng mặt);
- Cháu Trần Hoàng H3, sinh ngày 17/11/2006 (Có mặt).
- Anh Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 28/7/2006 (Vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp của cháu Ngô Hoàng H1: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Hoàng H3: Ông Trần Văn T7, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi bị hại cháu Nguyễn Ngọc H sinh sống: Anh Nguyễn Văn T8 - Bí thư Đoàn T10 phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Lành Phương T9 sinh sống: Anh Nguyễn Duy Đ3 – Phó Bí thư Đoàn T10 phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi người là chứng cháu Ngô Hoàng H1, cháu Trần Hoàng H3 sinh sống: Anh Nguyễn Công M2 – Bí thư Đoàn T10 xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lành Văn T, sinh năm 2003 trú tại số nhà B, ngõ B, tổ dân phố H, phường T, thành phố B; Hà Văn D1, sinh ngày 15/9/2006 trú tại số nhà A, ngõ H, đường N, phường X, thành phố B; Nguyễn Tiến T3, sinh ngày 12/6/2006 và Hà Văn Đ1, sinh ngày 22/4/2006 đều trú tại tổ dân phố S, phường X, thành phố B có quen biết và chơi cùng nhau.
Anh Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 08/12/2006, trú tại số nhà D, ngõ I, đường Đ, phường X, thành phố B nợ anh Hà Văn C, sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố S, phường X, thành phố B (là anh họ của T3) số tiền 1.300.000 đồng là tiền công cắt và nhuộm tóc. Anh H có mua quần áo, dép của Lành Phương T6, sinh năm 2008 (là em gái T) và còn nợ số tiền 900.000 đồng. Anh C và chị T6 đã nhiều lần đòi nợ nhưng anh H chưa trả được. T3 được anh C nói cho biết việc anh H nợ tiền đã lâu nhưng chưa trả. T được chị T6 kể về việc anh H nợ tiền mua quần áo và bảo nếu gặp anh H thì nhắc để trả nợ.
Khoảng 21 giờ ngày 08/5/2024, Hà Văn Đ1 điều khiển xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98B3 – 886.94 chở Nguyễn Tiến T3 cùng bạn là Trần Hoàng H3, sinh năm 2006 và Nguyễn Hoàng L, sinh năm 2006 đều trú tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi đến khu vực Q chơi. Tại đây, nhóm của Đ1 gặp Lành Văn T điều khiển xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98B3 – 857.26 chở Hà Văn D1 đi chơi. Cả nhóm rủ nhau cùng đi đến khu vực trước Đ tưởng niệm gần Quảng trường 3/2 chơi. Sau đó, Trần Hoàng H3 và Nguyễn Hoàng L đi về trước.
Trong lúc Lành Văn T, Hà Văn D1, Nguyễn Tiến T3, Hà Văn Đ1 đứng chơi tại khu vực trước Đ tưởng niệm thì gặp anh Nguyễn Ngọc H cùng với Ngô Hoàng H1, sinh năm 2008 và Nguyễn Văn H2, sinh năm 2006 đều trú tại thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang đứng chơi tại khu vực tháp nước ở Đ tưởng niệm.
Lúc này, Nguyễn Tiến T3 nhìn thấy anh Nguyễn Ngọc H đang đứng chơi ở gần đó nên nói với mọi người trong nhóm “thằng H kìa”. T và Đ1 mỗi người đi một xe máy đến vị trí anh H đang đứng. Do bực tức về việc anh H nợ tiền anh C nhưng chưa trả nên T3 xuống xe đi đến dùng tay đấm 3 cái vào sau đầu anh H và nói “sao mày nợ tiền anh tao chưa trả”. T can ngăn và bảo T3 không đánh anh H nữa. Lúc này, T nảy sinh ý định bắt giữ anh H đưa đi gặp chị Lành Phương T6 để chị T6 nói chuyện về việc anh H nợ tiền mua quần áo nhưng chưa trả. T bảo Hà Văn Đ1 và Nguyễn Tiến T3 đi cùng một xe kèm anh Nguyễn Ngọc H đi theo T. Anh H sợ nên không ngồi lên xe. T đi được một đoạn nhìn quay lại thấy anh H vẫn đứng không chịu ngồi lên xe của Đ1, có 3 người bạn của anh H vẫn đứng ở đó nên quay lại nói “thằng nào thích bênh nó”. Anh H sợ bị đánh nên phải ngồi lên xe. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3 – 857.26 chở D1 đi trước dẫn đường. Đoàn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3 – 886.94 chở T3 ngồi giữa và anh H ngồi sau cùng.
Trên đường đi, Lành Văn T sử dụng điện thoại di động gọi cho Lành Phương T6 nói đã bắt được anh H và bảo chị T6 đi ra nói chuyện về việc anh H còn nợ tiền và bảo chị T6 đi ra đầu ngõ. Nhóm của T đưa anh H đi qua các tuyến đường dài khoảng 4km rồi đưa đến bãi đất trống ở gần nhà T. Sau đó, T bảo D1 đi đón chị T6. D1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3 – 857.26 đi đến đầu ngõ nhà T thì gặp chị T6 đang đi bộ ra. D1 kèm chị T6 quay lại bãi đất trống. Tại đây, chị T6 nói với anh H về việc hứa hẹn nhiều lần nhưng vẫn không trả nợ. Anh H nói chưa có tiền và hẹn chiều hôm sau sẽ chuyển khoản trả nợ thì chị T6 đồng ý. T tức giận nên hỏi anh H “mày thích thế nào” rồi dùng hai tay đấm, tát vào vùng mặt và ngực anh H. Tiếp đó, T bắt anh H quỳ xuống nhưng anh H không đồng ý. Hà Văn D1 đi đến dùng chiếc dép đang đi ở chân đánh vào vùng đầu anh H rồi nhặt một đoạn gậy gỗ chỉ gậy về phía anh H. Chị T6 sợ D1 đánh anh H nên can ngăn thì D1 vứt gậy đi. Sau đó, chị T6 đi bộ về nhà. T điều khiển xe mô tô chở D1 đi một đoạn thì dừng lại chờ Đ1 và T3.
Lúc này, Nguyễn Tiến T3 sử dụng điện thoại di động gọi cho anh Hà Văn C nói cho anh C biết việc đã tìm giữ được anh H và bảo anh C đi ra nói chuyện việc anh H còn nợ tiền. T3 nhắn tin cho anh C bảo đi lên khu vực gần cầu S rồi quay sang bảo mọi người chờ anh C đến để nói chuyện. Đ1 điều khiển xe mô tô chở T3 đi đến chỗ anh H đang đi bộ và bảo ngồi lên xe. Anh H đồng ý và ngồi phía sau T3. Nhóm của T tiếp tục đưa anh H đi khoảng 500m đến đầu đường T, phường T, thành phố B để chờ anh C đến nói chuyện việc nợ tiền. Khoảng 05 phút sau, anh C đi xe máy điện đến. Khi gặp nhau, anh C giơ tay định đánh anh H thì T nói vừa đánh rồi nên anh C dừng lại. Anh H xin nợ đến ngày 15/5/2024 thì anh C đồng ý rồi điều khiển xe máy điện chở D1 ra về trước. Đ1 điều khiển xe chở T3 đi về. Lúc này, D1 thấy anh H không có xe đi về nên gọi điện cho anh Nguyễn Văn H2 (là bạn anh H) bảo đến đón và đưa anh H về nhà. Anh H đi bộ đến cổng trường Cao đẳng K thì gặp anh H2 và anh Ngô Hoàng H1 đi đến rồi đưa về nhà. Ngày 09/5/2024, anh H1 có đơn trình báo.
Ngày 09/5/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Lành Văn T, Hà Văn D1, Nguyễn Tiến T3, Hà Văn Đ1 đến làm việc thì T, D1, T3, Đ1 khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Cơ quan điều tra tạm giữ của Lành Văn T 01 điện thoại di động Iphone 8 lắp sim số 0862.829.133 và chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 98B3 – 857.26. Tạm giữ của Hà Văn Đ1 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro lắp sim số 0342.617.106 và xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98B3 – 886.94. Tạm giữ của Nguyễn Tiến T3 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro lắp sim số 0382.880.862. Tạm giữ của Hà Văn D1 01 điện thoại di động Iphone Xs Max lắp sim số 0377.604.260.
Cơ quan điều tra đã cho Lành Văn T, Nguyễn Tiến T3, Hà Văn D1, Hà Văn Đ1 thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả các bị can T3, T, D1 thực hiện động tác đánh anh H1, ép buộc phải ngồi lên xe mô tô do Đ1 điều khiển đi từ khu vực Đài tưởng niệm đến bãi đất trống thuộc tổ dân phố H, phường T, thành phố B và đầu đường T, phường T, thành phố B.
Đối với anh Nguyễn Ngọc H bị Lành Văn T, Nguyễn Tiến T3, Hà Văn D1 đánh và bị vết thương sưng nề môi dưới, trán trái, gò má trái. Anh H xác định thương tích không đáng kể, không phải điều trị tại bệnh viện nên tự nguyện có đơn xin từ chối giám định và không có đề nghị gì.
Về xác minh, xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
- Chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98B3 – 857.26 thu giữ của Lành Văn T. Kết quả điều tra xác định thuộc sở hữu của ông Lành Văn T1 là bố của T. Cơ quan điều tra đã trả lại ông T1.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro và chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 98B3 – 886.94 thuộc sở hữu của ông Hà Văn B là bố của Đ1. Cơ quan điều tra đã trả lại ông B.
- Chiếc điện thoại Iphone 8 là của T; điện thoại di động Iphone 12 Pro là của T3; điện thoại di động Iphone Xs Max là của D1. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Về bồi thường dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc H tổng số 5.400.000 đồng. Trong đó, ông Nguyễn Văn N là bố của bị cáo T3 bồi thường 2.000.000 đồng; ông Hà Văn B là bố bị cáo Đ1 bồi thường 400.000 đồng; ông Hà Văn T2 là bố bị cáo D1 bồi thường 2.000.000 đồng; ông Lành Văn T1 là bố bị cáo T bồi thường 1.000.000 đồng. Anh H và bà Hà Thị N1, ông Nguyễn Văn M1 là bố mẹ anh H không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ cho các bị cáo.
Đối với hành vi của các bị cáo đánh anh Nguyễn Ngọc H vì tức giận do anh H nợ tiền của anh C và chị T6 nhưng khất lần không trả; các bị cáo thực hiện hành vi bắt anh H mục đích để chị T6 và anh C gặp và nói chuyện về lý do anh H chưa trả tiền nợ; sau khi các bên nói chuyện xong thì cho anh H ra về, không có ý thức chiếm đoạt tiền. Do vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo không phạm vào tội chiếm đoạt tài sản.
Đối với chị Lành Phương T6 và anh Hà Văn C không hứa hẹn, không bàn bạc và không tham gia cùng nhóm của T bắt anh Nguyễn Ngọc H; sau khi biết nhóm của T đã giữ anh H thì chị T6 và anh C đến gặp anh H yêu cầu trả nợ rồi ra về. Chị T6 và anh C không đồng phạm trong việc bắt anh H nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại bản cáo trạng số 175/CT-VKS ngày 16 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội “Bắt người trái pháp luật” theo điểm e khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã nêu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Lành Phương T6 trình bày: Tối 8/5/2024, anh trai cháu là Lành Văn T có gọi điện bào cháu ra bãi đất trống gần nhà để gặp và nói chuyện với anh Nguyễn Ngọc H về việc anh H nợ tiền cháu. Trước đó, cháu không tham gia bàn bạc, không được biết trước việc T cùng các bị cáo bắt anh H đưa đến gặp cháu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lành Văn T1 trình bày: Chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98B3 – 857.26 là của ông, cho bị cáo T mượn để đi lại. Ông đã nhận lại xe, không có ý kiến gì. Đối số tiền 1.000.000 đồng mà ông thay bị cáo bồi thường cho bị hại ông không yêu cầu bị cáo phải trả lại.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn B trình bày: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro và chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 98B3 – 886.94 là của ông, cho bị cáo B mượn để sử dụng. Hiện ông đã nhận lại xe và điện thoại. Ông tự nguyện bồi thường thay bị cáo 400.000 đồng và không có ý kiến gì đối với số tiền này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N trình bày: Số tiền 2.000.000 đồng ông đứng ra bồi thường thay bị cáo T3 là tiền của bị cáo T3 đưa cho ông nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn T2 trình bày: Do bị cáo D1 tác động nên đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại 2.000.000 đồng. Ông không yêu cầu bị cáo phải trả lại ông số tiền này.
Người làm chứng cháu Trần Hoàng H3 giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa nhất trí và không có ý kiến gì.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lành Văn T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/5/2024.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn D1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Bắt người trái pháp luật”.
- Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Chuyển hình phạt 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 223/2023/HS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang thành hình phạt 01 năm 09 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 03 năm 03 tháng tù dến 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/07/2024 nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2023 đến ngày 08/6/2023 của Bản án số 223/2023/HS-ST ngày 24/11/2023.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T3 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T3 cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cho hưởng án treo về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đ1 cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo T 01 chiếc điện thoại Iphone 8 lắp sim số 0862.829.133; trả lại bị cáo T3 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro lắp sim số 0382.880.862; Trả lại bị cáo D1 01 điện thoại di động Iphone Xs Max lắp sim số 0377.604.260 nhưng đều tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- [2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai, tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
- [3] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 08/12/2006, trú tại số nhà D, ngõ I, đường Đ, phường X, thành phố B nợ tiền anh Hà Văn C là anh họ của Nguyễn Tiến T3 và nợ tiền chị Lành Phương T6 là em gái Lành Văn T nhưng chưa trả. Buổi tối ngày 08/5/2024, Lành Văn T, Hà Văn D1, Nguyễn Tiến T3, Hà Văn Đ1 đang chơi tại khu vực trước Đài tưởng niệm gần Q thì gặp anh Nguyễn Ngọc H đi chơi tại đây. T3 dùng tay tát anh H. Nhóm của T bắt anh H ngồi lên xe mô tô do Đ1 điều khiển đưa đến bãi đất trống ở gần nhà T để chị T6 nói chuyện về việc anh H còn nợ tiền. Tại đây, T và D1 đánh anh H vì lý do hứa nhưng không trả nợ chị T6. Sau đó, nhóm của T tiếp tục ép anh H ngồi lên xe mô tô rồi đưa đến đầu đường T, phường T, thành phố B. Khi anh C đến nói chuyện với anh H xong thì nhóm của T cho anh H ra về. Tại thời điểm các bị can thực hiện hành vi bắt anh H thì anh H dưới 18 tuổi. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” theo điểm e khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo:
- [4.1] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tự do của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, cần xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này.
- [4.2] Về vai trò các bị cáo: Các bị cáo cùng cố ý phạm tội nhưng không có dấu hiệu tổ chức, không có sự bàn bạc cụ thể, cấu kết chặt chẽ nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo T là người có vai trò cao nhất, người khởi sướng việc bắt giữ anh H đưa đi gặp chị T6, là người dẫn đường cho xe của Đ1 và T3 kèm anh H đi theo, là người quát nạt khiến anh H sợ bị đánh nên phải ngồi lên xe, có hành vi đánh anh H. Bị cáo T3 có vai trò thứ hai, là người chủ động, khởi sướng đưa anh H đi gặp C, có hành vi đánh anh H, trực tiếp đi cùng xe với anh H đưa đi gặp anh C và chị T6. Bị cáo D1 có vai trò thứ ba, cùng các bị cáo khác đưa anh H đi gặp anh C và chị T6, có hành vi đánh anh H. Bị cáo Đ1 có vai trò sau cùng, không đánh anh H nhưng có đi cùng các bị cáo khác đưa anh H đi gặp anh C và chị T6.
- [5] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Bị cáo T đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo D1 đã bị xét xử về hình sự. Bị cáo T3, Đ1 không có nhân thân. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo T tự nguyện đầu thú, có thời gian tham gia quân ngũ, có ông là người có công với cách mạng, có tham gia hiến máu tại địa phương. Bị cáo Đ1 có ông là người có công với cách mạng. Do vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo T3 cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do ông nội bị cáo được tặng thưởng giấy khen do có thành tích xuất sắc trong chiến đấu bảo vệ biên giới và bị cáo tích cực tham gia hoạt động do Đoàn thanh niên tổ chức tại địa phương là không có cơ sở chấp nhận nhưng Hội đồng xét xử sẽ xem xét đến các tình tiết này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- [6] Bị cáo T3, Đ1 có vai trò là người giúp sức, các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo T3 khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo T3, Đoàn ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho UBND xã, phường nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.
- [7] Bị cáo T đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo D1 đã bị xét xử về hình sự nhưng không lấy đó làm bài học, tiếp tục phạm tội nên cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù giam mới đủ đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật. Bị cáo D1 phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên cần áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 của Bộ luật Hình sự chuyển hình phạt tù cho hưởng án treo thành hình phạt tù giam và tổng hợp với hình phạt của bản án này.
- [8] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận. Không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo T3 và đề nghị của người bào chữa cho bị cáo D1 về áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo T3, D1 dưới mức thấp nhất khung hình phạt được áp dụng và không chấp nhận đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo T3.
- [9] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- [10] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo T 01 chiếc điện thoại Iphone 8 lắp sim số 0862.829.133; trả lại bị cáo T3 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro lắp sim số 0382.880.862; Trả lại bị cáo D1 01 điện thoại di động Iphone Xs Max lắp sim số 0377.604.260 do đều không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nhưng đều tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- [11] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- [12] Đối với hành vi của các bị cáo đánh anh Nguyễn Ngọc H vì tức giận do anh H nợ tiền của anh C và chị T6 nhưng khất lần không trả; các bị cáo thực hiện hành vi bắt anh H mục đích để chị T6 và anh C gặp và nói chuyện về lý do anh H chưa trả tiền nợ; sau khi các bên nói chuyện xong thì cho anh H ra về, không có ý thức chiếm đoạt tiền. Do vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo không phạm vào tội chiếm đoạt tài sản.
- [13] Đối với chị Lành Phương T6 và anh Hà Văn C không hứa hẹn, không bàn bạc và không tham gia cùng nhóm của T bắt anh Nguyễn Ngọc H; sau khi biết nhóm của T đã giữ anh H thì chị T6 và anh C đến gặp anh H yêu cầu trả nợ rồi ra về. Chị T6 và anh C không đồng phạm trong việc bắt anh H nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
- [14] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam các bị cáo T, D1 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lành Văn T 02(hai) năm 08(tám) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/5/2024.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn D1 02(hai) năm tù về tội “Bắt người trái pháp luật”.
Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Chuyển hình phạt 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 223/2023/HS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang thành hình phạt 01 năm 09 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 03(ba) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/07/2024 nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2023 đến ngày 08/6/2023 của Bản án số 223/2023/HS-ST ngày 24/11/2023.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T3 02(hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời gian thử thách là 04(bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T3 cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ1 02(hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời gian thử thách là 04(bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đ1 cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo T 01 chiếc điện thoại Iphone 8 lắp sim số 0862.829.133; trả lại bị cáo T3 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro lắp sim số 0382.880.862; Trả lại bị cáo D1 01 điện thoại di động Iphone Xs Max lắp sim số 0377.604.260 nhưng đều tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 và khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của của Bộ luật Tố tụng hình sự của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Số: 45/2024/TB-TA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bắc Giang, ngày 16 tháng 10 năm 2024 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 45, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 186/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang do có lỗi chính tả, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
- Về nội dung tại dòng 22 từ trên xuống dưới của trang 14 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “...09(chind) tháng tù.”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “...09(chín) tháng tù.”.
- Về nội dung tại dòng 1-2 từ dưới lên trên của trang 14 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “...giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “...giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.”.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 186/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về bắt người trái pháp luật
- Số bản án: 186/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Bắt người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lành Văn T - Bắt người trái pháp luật
