|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 186/2024/HSST Ngày: 18/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung
- Các hội thẩm nhân dân: ông Trần Quốc Đấu và ông Nguyễn Thái Quý
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Tiến Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: bà Phạm Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024; tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 167/2024/HSST ngày 11 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Quốc A; tên gọi khác: không; sinh ngày: 12/12/2005; nơi thường trú: thôn E, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lưu Ngọc T; sinh năm 1982; con bà: Nguyễn Thị H1; sinh năm 1984; Vợ, con: chưa có; tiền sự, nhân thân: không.
Tiền án: - Bản án số 82/2024/HSST ngày 16/4/2024, bị TAND TP Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa thi hành án, bị cáo làm đơn kháng cáo bản án, hiện nay đang chờ Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.
Những người được triệu tập đến tham gia phiên tòa:
Người bị hại:
- Trường trung học cơ sở N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, địa chỉ: xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo pháp luật: bà Hoàng Thị L, sinh năm 1973, chức vụ: Hiệu trưởng, trú tại khối Y, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- chị Trần Thị Trà M, sinh năm 2004, trú tại xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2003, trú tại số A, ngõ A, đường V, phường B, thành phố V là nhân viên Cửa hàng M1 tại số G, đường P thuộc khối F, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
- Anh Trần Văn T2, sinh năm 1991, trú tại khối H, phường T, thành phố V là nhân viên Cửa hàng M2, địa chỉ tại số A, đường B thuộc phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong tháng 4 năm 2024, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Lưu Quốc A đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản với tổng trị giá 11.500.000 đồng trên địa bàn thành phố V, tỉnh Nghệ An, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, Lưu Quốc A điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Espero màu ghi mang biển số: 37AA – 010.72 (xe máy A mượn của bạn tên Trần Thị Trà M từ trước, để đi S) đi qua khu vực Trường trung học cơ sở N thuộc xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An thấy bên trong không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định vào trường để trộm cắp tài sản. A dựng xe máy ngoài đường, đi bộ ra phía sau rồi trèo qua tường để đột nhập vào bên trong trường. Khi đến phòng làm việc của hiệu trưởng nhìn vào bên trong thấy có 01 bộ máy vi tính trên bàn nên A nảy sinh ý định đột nhập vào để trộm cắp bộ máy vi tính. Vì vậy, A ra khu vực sân trường nhặt 01 hòn đá hình tròn, màu xám, đường kính khoảng 15cm rồi quay lại đập vỡ kính cửa chính phòng. Sau đó, A đột nhập vào bên trong lấy trộm 01 bộ máy tính rồi đưa ra ngoài tường rào.
Sau khi trộm cắp được tài sản, A điều khiển xe máy chở bộ máy tính đưa đến Cửa hàng M1 tại số G đường P thuộc khối F, phường B, thành phố V. Tại đây, A gặp nhân viên của Cửa hàng là Nguyễn Văn T1, bị cáo A nói với T1 cho em bán bộ máy tính, anh T1 hỏi lại máy của ai thì A trả lời máy của anh trai cho. Kiểm tra bộ máy tính xong, T1 và A thống nhất mua bán bộ máy tính trên với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, A điều khiển chiếc xe máy về trả xe cho Trà M rồi đi về nhà. Số tiền trên A đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 30/4/2024, Lưu Quốc A tiếp tục nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, nên A đi bộ một mình đến trường đến Trường trung học cơ sở N, nhìn thấy bên trong không có người trông coi, A đi ra khu vực phía sau trèo qua tường rào để vào bên trong trường. Khi đến phòng Hành Chính của trường, phát hiện trong phòng có 01 bộ máy tính để bàn. Vì vậy, A đi ra khu vực sân trường, nhặt 01 hòn đá hình tròn, màu xám, đường kính khoảng 15cm rồi quay lại đập vỡ kính cửa chính. Lưu Quốc A đột nhập vào bên trong lấy trộm 01 bộ máy tính để bàn rồi đưa ra cất giấu tại khu vực hàng rào phía sau trường học. Sau đó, A đi nhờ xe của một người không quen biết (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến Trung tâm Thương mại L2 để gặp Trần Thị Trà M. Tại đây, A nói mượn chiếc xe máy để đi shipper nên Trà M đồng ý. Lưu Quốc A điều khiển xe máy quay lại nơi cất giấu bộ máy tính nêu trên rồi chở bộ máy tính đến Cửa hàng M2, địa chỉ tại số A, đường B thuộc phường T, thành phố V. Tại đây, A gặp chủ cửa hàng là anh Trần Văn T2. A nói với T2 là máy tính của bố mua cho nhưng giờ không sử dụng được em muốn bán. Kiểm tra bộ máy tính xong, A và anh T2 thống nhất mua bán bộ máy tính nêu trên với giá 600.000 đồng. Sau khi bán tài sản, A điều khiển chiếc xe máy về Trung tâm thương mai L1 trả xe máy cho chị Trà M rồi đi về nhà. Số tiền trên A đã tiêu xài cá nhân hết.
Vào hồi 14 giờ ngày 01/5/2024, bà Hoàng Thị L là Hiệu trưởng Trường trung học cơ sở N đã đến Công an xã N trình báo sự việc trên.
Vào khoảng 10 giờ ngày 02/5/2024, Công an xã N triệu tập Lưu Quốc A lên làm việc, tại cơ quan Công an, nhận thức được hành vi phạm tội, Lưu Quốc A xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu.
Cùng ngày 02/5/2024, Công an xã N triệu tập Nguyễn Văn T1 và Trần Văn T2 lên làm việc, tại cơ quan Công an, anh T1 và anh T2 đã trình bày về việc mua máy tính để bàn của Lưu Quốc A và đồng thời tự nguyện giao nộp hai bộ máy tính trên.
Ngày 03/5/2024, cơ quan CSĐT Công an T3 triệu tập Trần Thị Trà M lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, chị M trình bày nội dung có liên quan như đã nêu trên đồng thời tự nguyện giao nộp chiếc xe máy nhãn hiệu Espero màu ghi mang biển số: 37AA-010.72.
Tại kết luận định giá tài sản số 142/KL-ĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản U kết luận:
- - 01 bộ máy tính để bàn bao gồm: 01 CPU Dell insipiron 3470 D13S core i3; 01 màn hình Dell E1914HF; 01 bàn phím Dell KB216T; 01 chuột máy tính Dareu LM103FC, đã qua sử dụng có giá trị: 6000.000 đồng.
- - 01 bộ máy tính để bàn bao gồm: 01 CPU Dell insipiron 3470 D13S core i3; 01 màn hình Samsung S19F350HNE; 01 bàn phím Dell KB216T; 01 chuột máy tính Dareu LM103FC, đã qua sử dụng có giá trị: 5.500.000 đồng.
Tổng cộng tài sản định giá: 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số 179/CT-VKS ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP Vinh truy tố bị cáo Lưu Quốc An về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Lưu Quốc A từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, lời khai bị cáo, lời khai người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, đồng thời phù hợp lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Trong tháng 4/2023, Lưu Quốc A đã một mình lén lút đột nhập vào Trường trung học cơ sở N thực hiện 02 hành vi chiếm đoạt tài sản, gồm 02 bộ máy tính, tổng trị giá tài sản là 11.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
[2.2]. Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố V nói riêng và an toàn xã hội nói chung. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm minh, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để bị cáo có điều kiện được học tập, lao động, cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 02 hành vi chiếm đoạt tài sản là thuộc trường hợp tăng nặng phạm tội từ 2 lần trở lên. Bị cáo có nhân thân xấu, đã có tiền án nên phạm tội lần này là thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T1, anh T2 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định trên, xét thấy mức án đối với bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp.
Trong vụ án này anh T2, anh T1 là những người đã mua bộ máy tính của bị cáo nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp mà có nên không phạm tội. Anh T2, anh T1 đã nộp lại hai bộ máy tính để trả lại cho Nhà trường.
Chị Trà M là người cho bị cáo mượn xe máy nhưng do không biết được bị cáo sử dụng xe máy để đi trộm cắp tài sản nên không phạm tội, cơ quan điều tra đã trả lại xe máy cho chị M.
[2.3] Về trách nhiệm dân sự: - Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an T3 đã trả lại 02 bộ máy tính để bàn cho bà Hoàng Thị L là Hiệu trưởng Trường THCS N vào ngày 03/6/2024, bà L đại diện cho Nhà trường không yêu cầu gì thêm về dân sự nên miễn xét.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Espero màu ghi mang biển số: 37AA – 010.72, quá trình điều tra xác định xe của chị Trần Thị Trà M, việc Lưu Quốc A sử dụng xe làm phương tiện phạm tội chị M không biết, nên cơ quan Công an TP V đã trả lại xe cho chủ sở hữu vào ngày 03/6/2024 là đúng quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị H1 (mẹ bị cáo A) đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn T1 và bồi thường số tiền 600.000 đồng cho anh Trần Văn T2. Anh T1 và anh T2 không yêu cầu gì thêm về dân sự nên miễn xét.
- Đối với 02 tấm kính của Trường THCS N, thời gian sử dụng đã lâu, giá trị không lớn, nhà trường không yêu cầu định giá và bồi thường nên miễn xét.
- Đối với 02 hòn đá hình tròn, màu x ám, đường kính khoảng 15cm mà Lưu Quốc A sử dụng đập vỡ cửa kính để vào trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an T3 đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
[2.4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[2.5] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Lưu Quốc A 18 (mười tám) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/5/2024.
[2]. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Nhung |
5
6
Bản án số 186/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 186/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự Lưu Quốc An phạm tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 BLHS
