|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số:186/2024/DS-ST Ngày: 17-7-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng thuê nhà, đất; Hợp đồng vay tài sản; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Sức
- Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết là Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 350/2023/TLST- DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng thuê nhà, đất; Hợp đồng vay tài sản; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1976, có mặt.
Nơi cư trú: Tổ G, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang
- Bị đơn: Ông Lê Tấn T1, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2, sinh năm 1984, vắng mặt.
Cùng cư trú: Số B, Tôn Đức T3, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số nhà D, tổ A, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang – Giấy uỷ quyền công chứng ngày 02/3/2024, có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị S, sinh năm 1952 (mẹ bà T), vắng mặt.
- Ông Lê Hùng D, sinh năm 1971 (chồng bà T) có mặt
- Cháu Lê Hoàng N, sinh năm 2008 (con bà T) vắng mặt
- Cháu Lê Thị Yến N1, sinh năm 2018 (con bà T) vắng mặt
- Cháu Đặng Minh H, sinh năm 2008 (cháu bà T) vắng mặt
Nơi cư trú: Số B, tổ F, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 trình bày: Ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 có cho bà Phan Thị T thuê căn nhà cùng nền đất gắn liền có diện tích đất là: 90m²; Thửa đất số: 216; Tờ bản đồ số: 18; địa chỉ: xã P, huyện P, An Giang do Lê Tấn T1 và Nguyễn Thị Mỹ T2 đứng tên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 293811, số vào sổ cấp GCN: CS02712 với giá thuê là: 13.800.000 đồng/tháng (Mười ba triệu tám trăm nghìn đồng trên 1 tháng).
Thời gian cho thuê là 01 năm và không quá hạn đóng tiền thuê 3 tháng. Tuy nhiên, do bà T không thanh toán tiền thuê quá 03 tháng nên ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 sẽ hủy bỏ việc cho thuê và lấy lại căn nhà đã cho thuê tại địa chỉ như đã nêu trên.
Kể từ thời điểm cho thuê đến nay, bà T đã không đóng tiền thuê từ ngày 19/9/2022 đến ngày 19/9/2023: 13.800.000₫ x 12 tháng = 165.600.000 đồng ( Một trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng).
Yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Hủy bỏ Hợp đồng thuê nhà và đất được xác lập giữa ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 với bà Phan Thị T;
- Buộc bà T phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền thuê còn nợ là 165.600.000 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng) và tiền thuê phát sinh từ ngày 19/9/2023 đến khi xét xử và tiếp tục thanh toán tiền thuê phát sinh trong thời gian chậm trả lại tài sản.
- Buộc bà T phải giao trả lại cho ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 toàn bộ tài sản thuê gồm 01 căn nhà cùng nền đất gắn liền có diện tích đất là: 90m2; Thửa đất số: 216; Tờ bản đồ số: 18; địa chỉ: xã P, huyện P, An Giang do Lê Tấn T1 và Nguyễn Thị Mỹ T2 đứng tên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 293811, số vào sổ cấp GCN: CS02712
Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện ủy quyền của ông T1 và bà T xác định việc chuyển nhượng đất và thuê nhà, đất xuất phát từ hợp đồng vay tài sản, cụ thể như sau:
Vào ngày 18/4/2021 ông T1 và bà T2 có cho bà T vay số tiền 400.000.000 đồng. Khi vay hai bên không làm biên nhận nợ mà làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng ngày 22/4/2021 đối với diện tích đất là: 90m²; Thửa đất số: 216; Tờ bản đồ số: 18; địa chỉ: xã P, huyện P, An Giang; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 293811, số vào số cấp GCN: CS02712 do Sở T8 cấp ngày 16/5/2018 cho bà Phan Thị T, giá trị chuyển nhượng là 400.000.000 đồng.
Hai bên có thỏa thuận miệng lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay 02 tháng. Sau khi vay bà T có đóng lãi 158.400.000 đồng.
Bà Phan Thị T trình bày:
Bà Phan Thị T với ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 không có bà con họ hàng, do bà T cần tiền nên được em dâu bà con của bà T tên L (không biết rõ họ tên) làm cò cho bà T liên hệ ông T1 để vay tiền, bà L lấy tiền cò. Vào tháng 5/2021 âm lịch, bà T liên hệ với ông T1 và bà T2 để vay 400.000.000 đồng, lãi mỗi tháng khoảng 12.000.000 đồng,tương đương 3%/tháng. Thời hạn vay là 03 tháng. Bà T vay để mua bán hải sản. Bà T nhận đủ 400.000.000 đồng của ông T1 và bà T2 tại nhà của ông T1 và bà T2, ngay sau đó bà T phải đóng tiền bảo hiểm khoản vay cho ông T1 và bà T2 25.000.000 đồng và tiền cò cho bà L 5.000.000 đồng và cho thêm bà L 1.000.000 đồng.
Khi vay ông T1 có yêu cầu bà T làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá trị chuyển nhượng 400.000.000 đồng (có công chứng) và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất (không công chứng, hợp đồng không ghi ngày tháng); bà T giao bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 293811, số vào sổ cấp GCN: CS02712; diện tích 90m², thửa đất số 216, tờ bản đồ 18 do sở T8 cấp ngày 16/5/2018 cho bà T đứng tên. Đất tọa lạc tại ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang cho ông T1 giữ. Sau khi vay bà T có trả lãi được vài tháng thì bà T không đủ tiền trả lãi nên nợ tiền lãi của ông T1 và bà T2 60.000.000 đồng. Cuối năm 2021, nhân viên của ông T1 (không nhớ họ tên) có liên lạc với bà T nói rằng bà T nợ 60.000.000 đồng lãi nên phải làm lại hợp đồng là 460.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng giá 460.000.000 đồng bà T đóng tiền lãi hàng tháng cho ông T1 và bà T2 mỗi tháng 13.800.000 đồng, hình thức đóng chuyển khoản vào tài khoản của bà Nguyễn Thị Mỹ T2, có khi bà T ra Ngân hàng để chuyển khoản, có khi ra tiệm vàng để nhờ chuyển khoản cho bà T2. Bà T đóng tiền lãi đến khoảng tháng 3/2023 thì không còn khả năng đóng lãi nên ngưng đến nay. Tổng số tiền bà T đóng lãi cho ông T1 và bà T2 hơn 200.000.000 đồng.
Lúc ông T1 bà T2 kêu làm hợp đồng chuyển nhượng và thuê quyền sử dụng đất nói là để “treo – tức là làm tin”, chứ không phải là mua bán đất nên bà T tin tưởng mà ký tên vào hợp đồng. Khi bà T ký tên vào hợp đồng thuê quyền sử dụng đất trong hợp đồng không có chữ “Tân Châu 19/1/2022” và cụm từ “ngón trỏ phải”. Bà T ký tên vào hợp đồng thuê quyền sử dụng đất vào tháng năm 2021. Chữ ký tên và chữ viết tên trong hợp đồng thuê đất mà ông T1 và bà Tiên cung c cho Tòa án là chữ ký tên và chữ viết tên của bà T, do bà T ký và viết.
Yêu cầu Tòa án:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 22/4/2021 và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/01/2022 giữa bà T với ông Lê Tấn T1, bà Nguyễn Thị Mỹ T2 là vô hiệu do giả tạo.
- Hủy cập nhật biến động quyền sử dụng đất ngày 12/4/2023 tại trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02712 ngày 16/5/2018 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh T8 cấp cho Phan Thị T đứng tên.
- Buộc ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02712 ngày 16/5/2018 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh T8 cấp cho Phan Thị T đứng tên.
Tại phiên tòa:
Đại diện của ông T1 và bà T rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, đồng ý với yêu cầu phản tố của bà T về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 22/4/2021 và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/01/2022 giữa bà Trần Thị T5 với ông Lê Tấn T1, bà Nguyễn Thị Mỹ T2 là vô hiệu do giả tạo và hủy cập nhật biến động quyền sử dụng đất ngày 12/4/2023 tại trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02712 ngày 16/5/2018 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh T8 cấp cho Phan Thị T đứng tên. Việc bà T tự nguyện trả vốn vay thì đại diện của ông T1 và bà Tiên đồng ý nhận và khi nào bà T trả đủ vốn vay thì ông T1 và bà T2 sẽ trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.
Bà T tự nguyện trả tiền cho ông T1 và bà T2 vốn gốc 400.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 124, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 217, 244, 245 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 đối với bị đơn bà Phan Thị T về yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng thuê nhà và đất, buộc bà T thanh toán tiền thuê nhà còn nợ là 165.600.000 đồng và tiền thuê phát sinh từ ngày 19/9/2023 đến khi xét xử và trong thời gian chậm trả tài sản. Buộc bà T giao trả 01 căn nhà gắn liền nền đất diện tích 90m² toạ lạc ở xã P, huyện P do Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thay đổi địa vụ tố tụng bà T trở thành nguyên đơn, ông T1, bà T2 trở thành bị đơn: Chấp nhận yêu cầu của bà T đối với ông T1, bà T2: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 22/4/2021 và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/01/2022 giữa bà T với ông T1, bà T2 là vô hiệu do giả tạo.
- Đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh biến động đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 293811, số vào số cấp GCN: CS02712 do Sở T8 cấp ngày 16/5/2018 cho ông Lê Tấn T1, bà Nguyễn Thị Mỹ T2 để cấp lại cho Phan Thị T đứng tên.
- Công nhận sự tự nguyện của bà T trả cho ông T1, bà T2 số tiền vay 400.000.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng và án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Nguyên đơn yêu cầu hủy bỏ hợp đồng thuê nhà, đất, đòi lại tiền thuê nhà; đòi lại nhà và đất; bị đơn yêu cầu Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà, đất và hợp đồng thuê nhà và đất vô hiệu do giả tạo từ hợp đồng vay tài sản; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên xác định quan hệ pháp luật là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà, đất và hợp đồng thuê nhà và đất; hợp đồng vay tài sản; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xét xử vắng mặt lần thứ hai không có đơn xin vắng, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.3] Tại phiên tòa nguyên đơn ông T1 và bà T rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn Phan Thị T. Xét thấy nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 về việc yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng thuê nhà và đất được xác lập giữa ông T1 và bà T2 với bà T; Buộc bà T phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền thuê còn nợ là 165.600.000 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng) và tiền thuê phát sinh từ ngày 19/9/2023 đến khi xét xử và tiếp tục thanh toán tiền thuê phát sinh trong thời gian chậm trả lại tài sản và buộc bà T phải giao trả lại cho ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 toàn bộ tài sản thuê gồm 01 căn nhà cùng nền đất gắn liền có diện tích đất là: 90m2; Thửa đất số: 216; Tờ bản đồ số: 18; địa chỉ: xã P, huyện P, An Giang do Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 đứng tên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 293811, số vào sổ cấp GCN: CS02712.
[1.4] Thay đổi địa vị tố tụng: Do nguyên đơn ông Phan Tấn T6, bà Nguyễn Thị Mỹ T2 rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và bị đơn bà Phan Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố nên căn cứ khoản 1 Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thay đổi địa vị tố tụng, bà Phan Thị T trở thành nguyên đơn, ông Phan Tấn T6 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 trở thành bị đơn.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự xác định vào ngày 18/4/2021 bà Phan Thị T có vay tiền 400.000.000 đồng của ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2, lãi suất thỏa thuận miệng là 3%/tháng, thời hạn vay 02 tháng. Khi vay hai bên không làm hợp đồng vay tài sản mà làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nội dung bà T chuyển nhượng diện tích đất là: 90m²; Thửa đất số: 216; Tờ bản đồ số: 18; địa chỉ: xã P, huyện P, An Giang; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 293811, số vào số cấp GCN: CS02712 do Sở T8 cấp ngày 16/5/2018 cho bà Phan Thị T cho ông T1 và bà T2 với giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng, được công chứng vào ngày 22/4/2021 tại Văn phòng C, tỉnh An Giang, địa chỉ số B đường T, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên hai bên có làm “tờ cam kết về việc chuyển nhượng lại tài sản” với số tiền chuyển nhượng là 460.000.000 đồng nhưng thực chất số tiền chênh lệch 60.000.000 đồng là tiền lãi chưa trả. Đồng thời ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và nhà đã ký hợp đồng chuyển nhượng cho nguyên đơn. Với giá thuê là 13.800.000 đồng/tháng.
[2.2] Cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận hợp đồng chuyển nhượng được công chứng vào ngày 22/4/2021; tờ cam kết về việc chuyển nhượng lại tài sản; hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và nhà đều là để làm tin và là căn cứ để tính lãi, bà T chỉ nhận tiền vay 400.000.000 đồng, không nhận tiền chuyển nhượng đất và từ khi ký hợp đồng chuyển nhượng đến nay gia đình của bà T vẫn sống trong căn nhà trên thửa đất 216. Do đó Hội đồng xét xử nhận định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích đất là: 90m²; Thửa đất số: 216; Tờ bản đồ số: 18; địa chỉ: xã P, huyện P, An Giang; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 293811, số vào số cấp GCN: CS02712 do Sở T8 cấp ngày 16/5/2018 cho bà Phan Thị T cho ông T1 và bà T2 với giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng, được công chứng vào ngày 22/4/2021 tại Văn phòng C, tỉnh An Giang, địa chỉ số B đường T, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và nhà là vô hiệu do giả tạo theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Bà T không nhận tiền chuyển nhượng tài sản nhà và đất, cũng không thuê nhà đất của ông T1 bà T2; tài sản nhà và đất trên thửa 216 vẫn do bà T và gia đình quản lý sử dụng. Các bên đương sự cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Đối với giao dịch bị che giấu là hợp đồng vay tài sản ngày 18/4/2021 vẫn có hiệu lực theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015. Mặc dù ông T1 và bà T2 không có đơn khởi kiện yêu cầu bà T trả lại tiền vay. Lẽ ra, Tòa án không giải quyết hợp đồng vay tài sản nhưng tại phiên tòa bà T tự nguyện trả lại số tiền vốn vay cho nguyên đơn 400.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này bà T.
Đối với tiền lãi của khoản vay 400.000.000 đồng, ông T1 và bà T2 có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[2.5] Đối với yêu cầu huỷ cập nhật biến động trang 3 quyền sử dụng đất của bà Phan Thị T. Xét thấy, do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1, bà T2 với và T bị vô hiệu nên bà T yêu cầu hủy cập nhật biến động trang của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/7/2023 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02712 ngày 16/5/2018 do Sở T8 cấp cho Phan Thị T đứng tên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà T. Ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị T7 giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà T7.
[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng 2.573.640 đồng, đã nộp xong.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bà Phan Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 20.000.000 đồng. Ông T1 và bà T2 phải chịu án phí 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157, Điều 165; khoản 2 Điều 227; Điều 244; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ 116, khoản 1 Điều 124, Điều 131 Bộ luật Dân sự 2025;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 về việc yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng thuê nhà và đất được xác lập giữa ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 với bà Phan Thị T; Buộc bà T phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền thuê còn nợ là 165.600.000 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng) và tiền thuê phát sinh từ ngày 19/9/2023 đến khi xét xử và tiếp tục thanh toán tiền thuê phát sinh trong thời gian chậm trả lại tài sản và buộc bà T phải giao trả lại cho ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 toàn bộ tài sản thuê gồm 01 căn nhà cùng nền đất gắn liền có diện tích đất là: 90m2; Thửa đất số: 216; Tờ bản đồ số: 18; địa chỉ: xã P, huyện P, An Giang do Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 đứng tên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 293811, số vào sổ cấp GCN: CS02712.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thị T.
- Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 22/4/2021 và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/01/2022 giữa bà T với ông Lê Tấn T1, bà Nguyễn Thị Mỹ T2.
- Hủy cập nhật biến động quyền sử dụng đất ngày 12/4/2023 tại trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02712 ngày 16/5/2018 do Sở T8 cấp cho Phan Thị T đứng tên. Bà Phan Thị T có quyền liên lệ cơ quan chuyên môn thực hiện thủ tục điều chỉnh biến động quyền sử dụng đất.
- Buộc ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02712 ngày 16/5/2018 do Sở T8 cấp cho Phan Thị T đứng tên.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Thị T trả lại ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 số tiền vốn vay 400.000.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 23/02/2024 là một phần của bản án sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 tự nguyện chịu chi phí tố tụng là 2.573.640 đồng, đã nộp xong.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Phan Thị T phải chịu án phí dân sự 20.000.000 đồng theo quy định pháp luật, được trừ vào số tiền đã nộp 600.000 đồng theo các biên lai số 0006673 ngày 28/12/2024 và biên lai số 0007010 ngày 06/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Bà Phan Thị T phải tiếp tục nộp 19.400.000 đồng.
- Ông Lê Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2 phải chịu án phí 300.000 đồng, được trừ vào số tiền đã nộp 4.440.000 đồng theo biên lai thu số 0006407 ngày 04/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông T1 và bà T2 được nhận lại 4.140.000 đồng.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Rỡ |
Bản án số 186/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hợp đồng thuê nhà, đất; hợp đồng vay tài sản; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 186/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng thuê nhà, đất; Hợp đồng vay tài sản; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà, hợp đồng vay tài sản
