|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 186/2024/HS-ST. Ngày: 12 - 8-2024. |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Xuyến.
Ông Hoài Đức Huệ.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trịnh Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Hùng Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 154/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số 732/TB-TA ngày 8/8/2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 5/10/1961 tại tỉnh Nam Định. Nơi đăng ký HKTT: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: khu I, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thiện K (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết); Bị cáo vợ là Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1962 (đã ly hôn) và có 02 con chung lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1985. Trong đó có Nguyễn Minh N1 là bị cáo trong vụ án này.
- Tiền án, Tiền sự: Không.
- Bị cáo được tại ngoại điều tra và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (bị cáo có mặt).
-
Nguyễn Minh N1, sinh ngày 10/7/1983 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký HKTT: ấp B, xã P, huyện N, Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1962. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Ngọc N2, sinh năm 1985 và có 03 con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2022.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo được tại ngoại điều tra và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (bị cáo có mặt).
-
Trịnh Thị Hồng T, sinh ngày 01/11/1979 tại tỉnh Hải Dương. Nơi đăng ký HKTT: 720, Đ, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Minh T1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1957 ( đã chết ); bị cáo có vợ là Nguyễn Văn T2, sinh năm 1972 và có 02 con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2006).
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo được tại ngoại điều tra và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (bị cáo có mặt).
-
Nguyễn Thị Hoài V, sinh ngày 13/4/1973 tại thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký HKTT: khu phố A, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh C1 (chết) và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm . Bị cáo chưa có chồng con.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo được tại ngoại điều tra và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 01 năm 2021, Nguyễn Mạnh C nảy sinh ý định thành lập công ty K1 để nhằm mục đích mua hóa đơn với giá trị gia tăng đầu vào với giá là 08%-10% hàng hóa dịch vụ, sau đó xuất bán hóa đơn giá trị gia tăng với giá 10%-12% dịch vụ chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT) cho các cho các cá nhân, tổ chức để hưởng lợi bất chính 2% tiền giá trị gia tăng trên hóa đơn. Để thực hiện ý định trên C đã mượn giấy tờ tuỳ thân của em gái là bà Nguyễn Thị Cẩm T4 (sinh năm1972, ngụ tại ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai để đăng ký hồ sơ thành lập Công ty TNHH T11 (sau đây gọi tắt là Công ty T11), mã số thuế: 3603769048; địa chỉ công ty: Khu C, tổ A, đường P, ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; ngành nghề đăng ký kinh doanh vận tải, Công ty T11 do bà Nguyễn Thị Cẩm T4 là người đại diện theo pháp luật, nhưng mọi hoạt động điều hành, ký kết, thanh toán của công ty đều do C thực hiện. Quá trình hoạt động từ năm 2021 đến tháng 7/2022, Công ty T11 không hoạt động tại địa điểm đăng ký kinh doanh, không có phương tiện vận tải để cung cấp dịch vụ vận tải. Để thực hiện việc mua bán trái phép hoá đơn, hợp thức hóa đầu vào và đầu ra, doanh thu đầu vào và đầu ra của Công ty để báo cáo thuế, tình hình sử dụng hóa đơn cho Chi cục thuế khu vực L1 N, C đã tìm các công ty bán hoá đơn trên mạng xã hội và liên hệ thông qua điện thoại để đặt mua, C đã mua hoá đơn giá trị giá tăng đầu vào có nội dung với giá là 8% - 10% hàng hoá, dịch vụ chưa bao gồm thuế VAT của các công ty cụ thể:
- Công ty TNHH T11 (Công ty T11), mã số thuế: 0314275164; địa chỉ tại số F, đường N, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật là ông Trần Thanh T5 (sinh năm 1990, ngụ tại: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận). Từ năm 2021 và 2022, C đã mua 39 hoá đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp từ Công ty T11 với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 23.882.683.454 đồng (hai mươi ba tỷ tám trăm tám mươi hai triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi bốn đồng).
- Công ty TNHH T11 (Công ty T11), mã số thuế: 0317409401; địa chỉ trụ sở: số F đường số A, khu dân cư N, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Trường H (sinh năm 1990; ngụ tại: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long). Trong năm 2022, C đã mua 01 hoá đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp từ Công ty T11 với giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 270.025.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- Công ty TNHH T12 (Công ty H2), mã số thuế: 0315406250; địa chỉ số A C, phường D, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Hoàng L (sinh năm 1988, ngụ tại số A quốc Lộ A, khu phố Q, phường K, thành phố T, tỉnh Long An). Từ năm 2021 và 2022, C đã mua 48 hoá đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp từ Công ty T12 với giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 32.100.461.397 đồng (ba mươi hai tỷ một trăm triệu bốn trăm sáu mươi mốt ngàn ba trăm chín mươi bảy đồng).
- Công ty TNHH T11 (Công ty T11), mã số thuế: 0317118106; địa chỉ số I đường số E, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Ngọc T6 (sinh năm 1972, ngụ tại số E đường H, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh). Năm 2022, C đã mua 04 hoá đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp từ Công ty T11 với giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 3.596.687.250 đồng (ba tỷ năm trăm chín mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn hai trăm năm mươi đồng).
- Công Ty TNHH D (Công ty D), mã số thuế: 0316941878; địa chỉ số B Đ, phường I, quận P, thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo pháp luật là Lê Minh T7 (sinh năm 1986, ngụ tại số D, khu V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Năm 2022, Công ty T11 đã mua 04 hoá đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp từ Công ty D với giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) 2.317.944.500 đồng (hai tỷ ba trăm mười bảy triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn năm trăm đồng).
- Công ty TNHH X (Công ty X), mã số thuế: 3600274054; địa chỉ số A, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Kim N4 (sinh năm: 1971, ngụ tại số A, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Năm 2021, Công ty T11 đã mua 07 hoá đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp của Công ty X với giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) 301.165.000 đồng (ba trăm lẻ một triệu một trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).
Sau khi mua hóa đơn giá trị gia tăng của các công ty trên để hợp thức hóa hàng hóa dịch vụ mua vào, Nguyễn Mạnh C đã dùng pháp nhân Công ty T11 xuất bán khống 238 hoá đơn giá trị gia tăng được Chi cục thuế khu vực L1 - Nhơn Trạch cấp mã hóa đơn với giá 10% -12 % hàng hoá, dịch vụ (chưa bao gồm thuế VAT) cụ thể như sau:
- Nguyễn Mạnh C đã bán 147 hóa đơn cho Trịnh Thị Hồng T là nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty TNHH C2, T có trách nhiệm thuê xe, vận chuyển nguyên vật liệu nhập khẩu, thuê xe vận chuyển hành thành phẩm từ các cảng biển về công ty, từ công ty đến các Cảng biển và giữa các cảng biển với nhau. Nhưng do sản xuất hàng gấp, xuất hàng cho kịp tàu, nhập nguyên liệu để phục vụ sản xuất. T đã không thuê được xe của các doanh nghiệp có pháp nhân đầy đủ, mà phải thuê các xe không có đăng ký công ty doanh nghiệp. Với lý do để bù đắp chi phí bỏ ra nên T đã phải mua hóa đơn khống của C và nhờ thanh toán để bù đắp chi phí thực tế. T đã mua tổng cộng 147 hóa đơn cho ba công ty: 78 hoá đơn giá trị gia tăng với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 6.695.133.006 đồng (sáu tỷ sáu trăm chín mươi lăm triệu một trăm ba mươi ba nghìn không trăm lẻ sáu đồng) cho Công ty TNHH C2, mã số thuế: 3600878627, địa chỉ đường số D, khu Công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai; 38 hoá đơn với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 3.706.050.000 đồng (ba tỷ bảy trăm lẻ sáu triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) cho Công ty TNHH T13, mã số thuế 0310153574, địa chỉ số D đường số F, phường T, quận G, thành phố. Hồ Chí M, (là công ty V1, đường biển cho Công ty TNHH C2); 31 hoá đơn với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 790.959.440 đồng (bảy trăm chín mươi triệu chín trăm năm mươi chín ngàn bốn trăm bốn mươi đồng) cho Công ty TNHH D1, mã số thuế: 3600731871, địa chỉ: khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Nguyễn Mạnh C bán 49 hóa đơn cho Nguyễn Thị Hoài V là giám đốc Công ty cổ phần V2, mã số thuế: 0310346544, địa chỉ: số F đường L, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh với lý do công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vận tải, trong quá trình hoạt động vận tải ngoài các phương tiện vận tải thuộc sở hữu công ty thì công ty có thuê các phương tiện bên ngoài để vận tải hàng hoá, tuy nhiên các chủ phương tiện tư nhân này không có tư cách pháp nhân để xuất hoá đơn VAT cho công ty nên khi biết C có công ty có thể xuất hoá đơn VAT để công ty hợp thức hoá các chi phí thuê phương tiện ngoài nên V đã liên hệ với C mua 49 hoá đơn giá trị gia tăng với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 41.760.805.777 đồng (Bốn mươi mốt tỷ bảy trăm sáu mươi triệu tám trăm lẻ năm ngàn bảy trăm bảy mươi bảy đồng).
Ngoài ra, C còn bán cho Công ty TNHH W, mã số thuế: 3603677037, địa chỉ đường số E, khu Công Nghiệp A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, 17 hoá đơn giá trị gia tăng với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 403.674.784 đồng (bốn trăm lẻ ba triệu sáu trăm bảy mươi bốn ngàn bảy trăm tám mươi bốn đồng); Công ty TNHH D2, mã số thuế: 3602954908, địa chỉ số B C, tổ F, khu B, ấp A, xã A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, 25 hoá đơn với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 7.945.650.000 đồng (bảy tỷ chín trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Đến tháng 05/2022, do Công ty T11 đã gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý sử dụng hoá đơn chứng từ nên C tiến hành làm thủ tục giải thể đối với pháp nhân là Công ty T11.
Đến ngày 17/5/2022, Nguyễn Minh N1 là con ruột của C biết C lợi dụng pháp nhân Công ty T11 để thực hiện việc mua bán hóa đơn nhưng do Công ty T11 đã dừng hoạt động nên N1 đứng ra thành lập công ty TNHH T11 để cho C tiếp tục thực hiện mua bán trái phép hoá đơn. Trong khoảng thời gian từ quý II/2022 đến quý I/2023, C đã lợi dụng pháp nhân của công ty T11 để mua hoá đơn của Công ty TNHH T11 (Công ty T11), mã số thuế: 0317118106; địa chỉ: số I đường số E, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh 06 hoá đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền trước thuế là 3.579.459.000 đồng (ba tỷ năm trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm năm mươi chín ngàn đồng) và Công ty TNHH T11 (Công ty T11), mã số thuế: 0317593165, địa chỉ: số A ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, 03 hoá đơn giá trị gia tăng với số tiền trước thuế là 3.513.999.169 đồng (ba tỷ năm trăm mười ba triệu chín trăm chín mươi chín ngàn một trăm sáu mươi chín đồng).
Khi cần mua hoá đơn C sẽ liên hệ với một người phụ nữ (không rõ họ tên địa chỉ) trao đổi thống nhất, sau đó C hoặc N1 sẽ cung cấp số liệu cho bên người phụ nữ này xuất hoá đơn cho công ty, khi xuất hoá đơn điện tử thì N1 tiến hành sử dụng tài khoản của công ty số tài khoản 1028562071 để chuyển khoản tiền đến số tài khoản của 02 công ty là Công ty T11 (STK 13910000292366) và Công ty T11 (STK 8929979798888). Hai công ty này là doanh nghiệp không có trụ sở hoạt động tại địa chỉ đăng ký là “doanh nghiệp ma”. Sau khi trừ 8% tiền bán hoá đơn, sẽ có người liên hệ và trả tiền còn lại bằng tiền mặt cho C. Mục đích mua hoá đơn của Công ty T11 và Công ty T11 là để cân đối hoá đơn đầu vào và đầu ra, thực tế không có hoạt động kinh doanh hoặc trao đổi dịch vụ diễn ra. Sau khi mua được hóa đơn thì Công ty T11 đã xuất bán khống tổng số 89 hoá đơn cụ thể như sau:
- Bán 78 hóa đơn cho Trịnh Thị Hồng T mua cho các công ty: Công ty TNHH C2 với số lượng là 44 hoá đơn với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 3.567.900.000 đồng (ba tỷ năm trăm sáu mươi bảy triệu chín trăm ngàn đồng). Công ty TNHH T13 với số lượng là 17 hoá đơn với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 1.974.000.000 đồng (một tỷ chín trăm bảy mươi bốn triệu đồng). Công ty TNHH D1, với số lượng là 17 hoá đơn, với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 618.969.840 đồng (sáu trăm mười tám triệu chín trăm sáu chín ngàn tám trăm bốn mươi đồng).
- Ngoài ra C còn bán cho Công ty TNHH D2, số lượng là 09 hoá đơn với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 2,151,190,909 đồng (hai tỷ một trăm năm mươi mốt triệu một trăm chín mươi ngàn chín trăm lẻ chín đồng) và Công ty TNHH H3, mã số thuế: 3603695597, địa chỉ đường số F, khu Công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai, số lượng là 02 hoá đơn với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
Như vậy, Nguyễn Mạnh C nhân danh pháp nhân Công ty T11 và Công ty T11 đã mua tổng cộng là 130 (một trăm ba mươi) hoá đơn giá trị gia tăng với tổng giá trị (chưa bao gồm thuế VAT) là 69.562.425.120 đồng (sáu mươi chín tỷ năm trăm sáu mươi hai triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn một trăm hai mươi đồng), đồng thời C đã bán trái phép tổng số 327 (ba trăm hai mươi bảy) hoá đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền trước thuế là 69.726.633.750 đồng (sáu mươi chín tỷ bảy trăm hai mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng). Tổng số hóa đơn C mua bán trái phép là 457 hóa đơn. C tiến hành mua hoá đơn với giá trị gia tăng 08%- 10%, sau đó bán lại với giá trị gia tăng là 10%-12%, hưởng lợi 02% tiền giá trị gia tăng trên hoá đơn, số tiền thu lợi bất chính của C do mua bán trái phép hóa đơn là 1.394.532.675 đồng (một tỷ ba trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm bảy mươi lăm đồng). Nguyễn Minh N1 giúp sức cho C mua bán trái phép tổng cộng 98 hóa đơn thu lợi bất chính là 166.721.214 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 1316/KL-CTDON ngày 05/3/2024 của Cục thuế tỉnh Đ kết luận: Căn cứ khoản 9, điều 3 của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hoá đơn chứng từ và căn cứ nội dung của Quyết định trưng cầu giám định số 27/QĐ-TCGĐ-KT. Giám định viên không xác định được hành vi trốn thuế do cả hai công ty T11 và Khải T8 thành lập nhằm mua bán trái phép hoá đơn GTGT”
* Tại bản cáo trạng số 153/CT.VKS-NT ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Minh N1, Trịnh Thị Hồng T và Nguyễn Thị Hoài V về tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ nộp ngân sách nhà nước” theo khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử Nguyễn Mạnh C từ 18 đến 20 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử Nguyễn Minh N1 từ 16 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; Điều 17, Điều 35 điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt Trịnh Thị Hồng T từ 200.000.000đ đến 300.000.000₫
Xử phạt Nguyễn Thị Hoài V từ 200.000.000đ đến 300.000.000₫
Và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên Tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Các bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, các bị cáo nói lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về trách nhiệm hình sự: Vào tháng 01 năm 2021, Nguyễn Mạnh C mượn giấy tờ tuỳ thân của em gái mình là bà Nguyễn Thị Cẩm T4 đứng tên thành lập Công ty TNHH T11 (Công ty T11) để hoạt động kinh doanh vận tải nhưng thực tế công ty không có phương tiện vận tải để phục vụ việc kinh doanh mà nhằm mục đích mua bán trái phép hóa đơn. Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 05 năm 2022, dựa trên pháp nhân của Công ty T11, C đã thực hiện hành vi mua 121 hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào và bán khống 238 hóa đơn giá trị gia tăng (Hai trăm ba mươi tám hóa đơn), tổng giá trị hoá đơn chưa thuế là 61.388.573.000, C hưởng lợi 02% với số tiền là 1.227.811.461 đồng.
Trong số 238 hóa đơn C bán thì Trịnh Thị Hồng T mua tổng cộng 148 hóa đơn cho ba Công ty TNHH C2, Công ty TNHH T13 và Công ty TNHH D1; Nguyễn Thị Hoài V mua 49 hóa đơn cho Công ty V2. Đến tháng 7/2022, Nguyễn Mạnh C làm thủ tục giải thể Công ty T11.
Sau khi giải thể Công ty T11, Nguyễn Mạnh C cùng con ruột của C là Nguyễn Minh N1 thành lập Công ty TNHH T11 (Công ty T11) để tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép hoá đơn giá trị gia tăng. Từ thời điểm quý II/2022 đến quý I, C đã lợi dụng danh nghĩa của Công ty T11 đã mua 09 hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào và xuất bán khống 89 (tám mươi chín) hoá đơn giá trị gia tăng, tổng giá trị hoá đơn chưa thuế là 8.336.060.749 đồng (Tám tỷ ba trăm ba mươi sáu triệu không trăm sáu mươi nghìn bảy trăm bốn mươi chín đồng), thuế giá trị gia tăng 8% là 737.955.218 đồng (Bảy trăm ba mươi bảy triệu chín trăm mười lăm nghìn hai trăm mười tám đồng), C hưởng lợi 02% với số tiền là 166.721.214 đồng. Trong số 89 hóa đơn C bán thì Trịnh Thị Hồng T mua 78 hóa đơn cho ba Công ty TNHH C2, Công ty TNHH T13 và Công ty TNHH D1.
Nguyễn Mạnh C đã thực hiện hành vi mua bán trái phép tổng cộng 457 hóa đơn (mua 130, bán 327), thu lợi bất chính 1.394.532.675 đồng (một tỷ ba trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm bảy mươi lăm đồng). Trong 457 hóa đơn C mua bán trái phép thì Nguyễn Minh N1 giúp sức cho mua bán trái phép 98 hóa đơn (mua 09, bán 89), thu lợi bất chính 166.721.214 đồng.
Trịnh Thị Hồng T đã thực hiện hành vi mua trái phép 226 hóa đơn.
Nguyễn Thị Hoài V đã thực hiện hành vi mua trái phép 49 hóa đơn.
Các bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội. Vì vậy có đủ căn cứ và cơ sở xác định hành vi của các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Minh N1, Trịnh Thị Hồng T, Nguyễn Thị Hoài V phạm tội : “ Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ nộp ngân sách nhà nước " theo khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ.
[3]. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước nếu không được ngăn chặn kịp thời nên cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét vai trò của từng bị cáo:
Tội phạm do các bị cáo thực hiện là tội phạm có đồng phạm giản đơn. Không có bàn bạc tổ chức. Do đó cần căn cứ vào số lượng hóa đơn mua bán và việc thu lợi của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương ứng với từng bị cáo. Bị cáoNguyễn Mạnh C đã thực hiện hành vi mua bán trái phép tổng cộng 457 hóa đơn (mua 130, bán 327), thu lợi bất chính 1.394.532.675 đồng. Kế đến là bị cáo N1 giúp sức cho bị cáo C mua bán trái phép 98 hóa đơn (mua 09, bán 89), thu lợi bất chính 166.721.214 đồng, tiếp theo là bị cáo T đã thực hiện hành vi mua trái phép 226 hóa đơn và cuối cùng là bị cáo V đã thực hiện hành vi mua trái phép 49 hóa đơn.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Minh N1, Trịnh Thị Hồng T, Nguyễn Thị Hoài V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Minh N1, Trịnh Thị Hồng T hiện nuôi hiện là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của địa phương ) nên được hưởng thêm tình tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo C đã nộp 2 lần số tiền thu lợi bất chính 200.000.000đ nên hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 BLHS
Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự.
- Xét thấy bị cáo Nguyễn Mạnh C có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự,, hiện nay đang phải nuôi một người con bị liệt nằm một chỗ, trong thời gian tại ngoại không có vi phạm gì thể hiện việc tự cải tạo bản thân tốt. Mặt khác theo hồ sơ bệnh án của Bệnh Viện Đ do bị cáo cung cấp thể hiện bị cáo đang bị bệnh tim ( nhồi máu cơ tim thành dưới ) đã phẫu thuật đặt 01DES/LCx1-OM1 phải thường xuyên uống thuốc, tái khám. Do đó không cần thiết xét xử bị cáo bằng hình phạt tù giam mà xét xử cho bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự và ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe giáo dục và tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc, nuôi con bị liệt và điều trị bệnh cho bản thân..
- Xét thấy bị cáo Lê Minh N5 có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, Phạm tội lần đầu với vai trò giúp sức cho bị cáo C trong việc mua bán hóa đơn. Trong thời gian tại ngoại không có vi phạm gì thể hiện việc tự cải tạo bản thân tốt, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi 3 con nhỏ 9 sinh năm 2020, 2021, 2024 ), vợ bị cáo mới sinh ngày 20/6/2024 (con dưới 12 tháng tuổi) cần có người chăm sóc và lo cho con cái . Do đó không cần thiết xét xử bị cáo bằng hình phạt tù giam mà xét xử cho bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự và ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe giáo dục.
- Xét thấy bị cáo Trịnh Thị Hồng T, Nguyễn Thị Hoài V có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu trong thời gian tại ngoại cũng không có vi phạm gì thể hiện việc tự cải tạo bản thân tốt. Bản thân các bị cáo khi mua hóa đơn cũng là hợp thức hóa việc quyết toán chứng từ cho Công ty không hưởng lợi từ việc mua bán hóa đơn. Do đó không cần thiết xét xử bị cáo bằng hình phạt tù giam mà xét xử cho các bị cáo hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ răn đe giáo dục
Đối với Nguyễn Thị Cẩm T4 là người đã cho Nguyễn Mạnh C mượn giấy tờ tuỳ thân để đăng ký thành lập Công ty T11, nhưng không biết C sử dụng pháp nhân công ty để thực hiện hành vi Mua bán trái phép hoá đơn nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là đúng quy định pháp luật.
Đối với Công ty TNHH T11, người diện theo pháp luật là ông Trần Thanh T5, có hành vi bán hóa đơn cho Nguyễn Mạnh C. Ngày 16/5/2023, T14 có Công văn số 1798/TCT-TTKT xác định Công ty TNHH T11 là doanh nghiệp có hành vi bán hóa đơn, hiện Công ty không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh ông Trần Thanh T5 nhưng ông T5 không có mặt tại địa phương, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Công ty TNHH T11, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Trường H có hành vi bán hóa đơn cho Nguyễn Mạnh C. Ngày 16/5/2023, T14 có Công văn số 1798/TCT-TTKT xác định Công ty TNHH T12 là doanh nhiệp có hành vi bán hóa đơn, hiện Công ty đang tạm ngừng hoạt động, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh ông Nguyễn Trường H nhưng ông H không có mặt tại địa phương nơi cư trú, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Công ty TNHH T12, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Hoàng L, có hành vi bán hóa đơn cho Nguyễn Mạnh C. Ngày 16/5/2023, T14 có Công văn số 1798/TCT-TTKT xác định Công ty TNHH T12 là doanh nhiệp có hành vi bán hóa đơn, hiện Công ty đang tạm ngừng hoạt động, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh ông Nguyễn Hoàng L nhưng ông L không có mặt tại địa phương nơi cư trú, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Công ty TNHH T11 vận tải Phạm Thiên Â, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Ngọc T6, có hành vi bán hóa đơn cho Nguyễn Mạnh C. Ngày 16/5/2023, T14 có Công văn số 1798/TCT-TTKT xác định Công ty TNHH T11 là doanh nhiệp có hành vi bán hóa đơn, hiện Công ty không hoạt động, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Ngọc T6, ông T6 cho biết không đứng ra thành lập Công ty T11, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Công ty TNHH T11, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn H1, có hành vi bán hóa đơn cho Nguyễn Mạnh C. Ngày 16/5/2023, T14 có Công văn số 1798/TCT-TTKT xác định Công ty TNHH T11 là doanh nhiệp có hành vi bán hóa đơn, hiện Công ty không hoạt động, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, làm việc với ông Nguyễn Văn H1 được biết ông không đứng ra thành lập và điều hành hoạt động của Công ty T11, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Công ty TNHH X, người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Kim N4, Công ty X có bán xăng dầu cho cá nhân tên T9 (hiện T9 đã chết do đột quỵ vào năm 2022), tuy nhiên T9 không có pháp nhân doanh nghiệp nên nhờ ông Nguyễn Mạnh C thông qua Công ty T11 để Công ty X xuất hoá đơn giá trị gia tăng. Công ty X không biết việc T9 mượn pháp nhân Công ty T11 để xuất hoá đơn giá trị gia tăng nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý đối với Công ty TNHH X và bà Nguyễn Thị Kim N6 là đúng qui định pháp luật.
Đối với các công ty có sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng của công ty T11 và Công ty T11:
+ Đối với các Công ty TNHH C2; Công ty TNHH T13 và Công ty TNHH D1 do bị can Trịnh Thị Hồng T đứng ra mua hoá đơn, các Công ty trên không biết việc T mua trái phép hoá đơn để hợp thức hoá việc quyết toán các dịch vụ vận chuyển đã sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là đúng quy định pháp luật.
+ Công ty TNHH D2, người đại diện pháp luật là bà Nguyễn Thị Phương T10, có mua hóa đơn của Nguyễn Mạnh C, đến nay vẫn chưa làm việc được với bà T10, qua xác minh hiện đang bị bệnh ung thư giai đoạn cuối điều trị phòng cách ly nên Cảnh sát điều tra tiếp xác minh, làm rõ xử lý sau.
+ Công ty TNHH H3, người đại diện pháp luật không biết cá nhân cho phía công ty thuê xe có sử dụng hoá đơn bất hợp pháp và số lượng hoá đơn là 02 hoá đơn đã có nội dung, do đó không cấu thành tội phạm.
+ Công ty TNHH W, người đại diện pháp luật cho biết phía công ty có làm việc với người đàn ông tên T9 (không rõ họ tên địa chỉ) tự xưng là người đại diện pháp luật của công ty T11, nên sau khi cung cấp hàng hoá dịch vụ xe đưa rước anh T9 đã xuất hoá đơn cho công ty TNHH W dưới danh nghĩa là công ty T11. Việc công ty T11 bán trái phép hoá đơn phía công ty không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là đúng qui định pháp luật.
[4]. Về xử lý vật chứng:
- Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C giao nộp 1.394.532.675 đồng (một tỷ ba trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm bảy mươi lăm đồng) thu lợi bất chính do phạm tội mà có.
- Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh của Trịnh Thị Hồng T sử dụng để liên lạc mua bán trái phép hoá đơn
Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000.000đ bị cáo C đã nộp để khắc phục tiền thu lợi bất chính theo biên lai thu tiền số 0007741 ngày 11/7/2024 và biên lai thu tiền số 0007409 ngày 24/7/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
[6]. Về án phí sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326, 327 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Minh N1, Trịnh Thị Hồng T, Nguyễn Thị Hoài V tội “phạm tội mua bán trái phép hóa đơn chứng từ nộp ngân sách nhà nước”
- Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhấn dân tối cao.
Xử phạt Nguyễn Mạnh C 01 ( Một ) năm 08 ( tám ) tháng tù. nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 3 (ba) năm 04 ( bốn ) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Mạnh C cho UBND thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục.
- Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhấn dân tối cao.
Xử phạt Nguyễn Minh N1 01 ( một ) năm 04 ( bốn ) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 02 ( hai ) năm 08 ( tám ) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Minh N1 cho UBND xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; Điều 17; Điều 35, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt Trịnh Thị Hồng T số tiền 250.000.000₫
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; Điều 17; Điều 35. Điểm s khoản 1 Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt Nguyễn Thị Hoài V số tiền 250.000.000đ.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C giao nộp 1.394.532.675 đồng (một tỷ ba trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm bảy mươi lăm đồng) thu lợi bất chính do phạm tội mà có.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh của Trịnh Thị Hồng T sử dụng để liên lạc mua bán trái phép hoá đơn
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 6/6/2024).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000.000đ bị cáo C đã nộp để khắc phục tiền thu lợi bất chính theo biên lai thu tiền số 0007741 ngày 11/7/2024 và biên lai thu tiền số 0007409 ngày 24/7/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Minh N1, Trịnh Thị Hồng T, Nguyễn Thị Hoài V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình Hiền |
Bản án số 186/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép hóa đơn chứng từ nộp ngân sách nhà nước
- Số bản án: 186/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ nộp ngân sách nhà nước
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh Cđã thực hiện hành vi mua bán trái phép tổng cộng 457 hóa đơn (mua 130, bán 327), thu lợi bất chính 1.394.532.675 đồng (một ỷt ba trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm bảy mươi lăm đồng). Trong 457 hóa đơn C mua bán trái phép thì Nguyễn Minh N1 giúp sức cho mua bán trái phép 98 hóa đơn (mua 09, bán 89), thu lợi bất chính 166.721.214 đồng. Trịnh Thị Hông T đã thực hiện hành vi mua trái phép 226 hóa đơn. Nguyễn Thị Hoài Vđã thực hiện hành vi mua trái phép 49 hóa đơn.
