|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 186/2024/HS-ST Ngày: 12/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhân Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỵ
Bà Trần Thị Thanh Xuân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Long, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Mạnh Long - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế (số F N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/TLST-HS ngày 26/4/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 27/5/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lê Bá Hoàng T (tên gọi khác: X), giới tính: Nam, sinh ngày 04 tháng 7 năm 1995, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 5/2/75 Y, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: B Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Không, quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, trình độ học vấn: 08/12, con ông Lê Bá T1 (chết), con bà Lê Thị Thúy H, gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba, vợ con: Chưa có.
Về nhân thân:
- - Ngày 14/6/2013 bị Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm về ma túy Công an tỉnh T xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (theo quyết định số 26/QĐ-XPHC).
- - Ngày 22/10/2013 bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (theo quyết định số 08/QĐ-XPHC).
Tiền sự: Không.
Tiền án: 05 tiền án của các bản án sau:
- - Bản án số 105/2017/HSST ngày 23/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Huế bị xử phạt 07 tháng về tội Trộm cắp tài sản.
- - Bản án số 18/2019/HSST ngày 21/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Huế bị xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- - Bản án số 269/2019/HSST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- - Bản án số 09/2021/HSST ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Bản án số 21/2021/HSST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/01/2024, tạm giam ngày 19/01/2024 (có mặt).
- Họ và tên: Phan Thanh T2 (tên gọi khác: Mập); giới tính: Nam, sinh ngày 05 tháng 11 năm 1994, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: 5 T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Công giáo, trình độ học vấn: 7/12, con ông Phan Thanh T3, con bà Nguyễn Thị Ngọc T4, gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai, vợ: chị Hồ Thị P, con: có 01 con sinh năm 2018.
Về nhân thân:
- - Ngày 14/5/2015 bị Tòa án nhân dann thành phố H xử phạt 07 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (theo bản án số 95/2015/HSST).
- - Ngày 15/4/2021 bị Ủy ban nhân dân phường P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thời hạn 03 tháng do nghiện ma túy (theo quyết định số 29A/QĐ-UBND);
- - Ngày 19/4/2021 bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (theo quyết định số 5895/QĐ-XPHC).
Tiền sự: Không
Tiền án: 01 tiền án (theo bản án số 106/2022/HSST ngày 06/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/01/2024, tạm giam ngày 19/01/2024 (có mặt).
Bị hại: Công ty X1 Q. Địa chỉ: B X, phường T, thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Lê Xuân T5, sinh năm 1962, nơi cư trú: 235 X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Đoàn Thiên Q1, sinh năm 1989; nơi cư trú: 1 P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Đăng T6, sinh năm 1968, nơi cư trú: 5/5/147 P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 15/01/2024, Lê Bá Hoàng Thiên m xe mô tô nhãn hiệu Wave biển kiểm soát số 75H7-3648 của anh Đoàn Thiên Q1 (xe mô tô này do anh Q1 mượn của anh Nguyễn Đăng T6) điều khiển đến gặp Phan Thanh T2 rồi chở T2 đến đường đi bộ bên cạnh Học viện  thuộc phường P, thành phố H chơi. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T và T2 phát hiện tại công trình đang dựng xây bờ kè sát bờ sông H cạnh Học viện  của Công ty X1 Q1 có nhiều tấm kim loại (sắt cốp pha) không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp. Thực hiện ý định này, T cùng T2 lén lút trộm cắp, dùng tay nâng một tấm sắt cốp pha nặng khoảng 70kg đưa lên xe 75H7-3648 rồi T chở T2 cùng tấm cốp pha trộm được tẩu thoát. Trên đường ra bến xe phía Bắc tìm cơ sở thu mua phế liệu để bán thì cả hai bị Công an phường A, thành phố H tuần tra phát hiện nghi vấn nên giữ lại. Qua làm việc, T và T2 khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như nội dung nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 310/KL-HĐĐGTS ngày 16/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 tấm sắt kim loại (sắt cốp pha) có trọng lượng 70kg, kích thước (1m x 2m x 0,05m) đã qua sử dụng có giá trị 2.300.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 tấm sắt kim loại (sắt cốp pha) có trọng lượng 70kg kích thước (1m x 2m x 0,05m).
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát 75H7-3648.
Về xử lý vật chứng: Ngày 11/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Đăng T6 01 xe mô tô biển kiểm soát 75H7-3648, trả cho Công ty X1 (một) tấm sắt kim loại (sắt cốp pha) có trọng lượng 70kg, kích thước (1m x 2m x 0,05m).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản nên không ai có yêu cầu gì thêm.
Đối với anh Đoàn Thiên Q1, anh Nguyễn Đăng T6 không biết việc Thiên mượn xe mô tô và sử dụng xe mô tô đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H không xử lý là có căn cứ.
Tại bản cáo trạng số 153/CT-VKSTPH ngày 23/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Lê Bá Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phan Thanh T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm h, s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Bá Hoàng T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm h, s, khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thanh T2 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù và buộc hai bị cáo phải chịu án phí hình sự theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
Tại phiên toà, hai bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa, do đó có cơ sở để kết luận:
[2.1]. Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, tại đoạn đường đi bộ dọc sông A (cạnh Học viện Â) thuộc phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Lê Bá Hoàng T và Phan Thanh T2 có hành vi trộm cắp 01 tấm sắt kim loại (sắt cốp pha) có trọng lượng 70kg, kích thước (1m x 2m x 0,05m) đã qua sử dụng, qua định giá xác định được tấm sắt kim loại này có giá trị 2.300.000 đồng. Tại
bản án số 21/2021/HSST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Huế đã xác định bị cáo T tái phạm.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Lê Bá Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Phan Thanh T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[2.2]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy: Bị cáo Lê Bá Hoàng T và bị cáo Phan Thanh T2 là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý thích đáng, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, nhằm giáo dục hai bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
[2.3]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Lê Bá Hoàng T và bị cáo Phan Thanh T2 có nhân thân là nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù, khi ra tù không lấy đó làm bài học cho bản thân để phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo Lê Bá Hoàng T hiện đang bị 05 tiền án chưa được xóa án tích và tại bản án số 21/2021/HSST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Huế đã xác định bị cáo T tái phạm nên lần phạm tội này của bị cáo T đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự là tái phạm nguy hiểm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T2 hiện đang có 01 tiền án (theo bản án số 106/2022/HSST ngày 06/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài) chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này, bị cáo T2 phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo T không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại không lớn nên hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3]. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong ở giai đoạn điều tra, không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Bá Hoàng T và bị cáo Phan Thanh T2 phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Bá Hoàng T và bị cáo Phan Thanh T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm h, s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bá Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/01/2024.
Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm h, s, khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thanh T2 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/01/2024.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, Điều 21; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Bá Hoàng T và bị cáo Phan Thanh T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Bản án này là sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo, được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nhân Đức |
Bản án số 186/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 186/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Bá Hoàng Thiên và đồng phạm - Trộm cắp tài sản
