|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 186/2024/DS – ST Ngày: 05 – 6 – 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN
GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thành Thật
- Bà Lê Thị Thanh Vân.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thụ lý số 141/2024/TLST – DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2024/QĐXXST – DS ngày 23 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 293/2024/QĐST – DS ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1988
Địa chỉ: Số B, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Uỷ quyền cho ông Nguyễn Tín E, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (theo giấy uỷ quyền ngày 22/3/2024 được chứng nhận tại Văn phòng C).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1980
Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1982
Cùng địa chỉ: Số F, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, có mặt ông Nguyễn Tín E, ông Nguyễn Minh T1; bà Nguyễn Thị Ngọc L vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là ông Trần Minh T, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Tín E là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Giữa ông T và ông T1, bà L có mối quan hệ làm ăn lâu năm. Ông T nhiều lần cho vợ chồng ông T1, bà L vay tiền. Trong tháng 09, tháng 10 năm 2023, do cần tiền để sửa chữa nhà nên vợ chồng họ có vay tiền của ông T nhiều đợt, cụ thể:
- Ngày 24/9/2023: Ông T cho ông T1, bà L vay 182.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm. Lãi suất thoả thuận miệng 20%/năm, cam kết bên ngoài sẽ trả lãi đầy đủ, trường hợp không trả lãi thì ông T có quyền đòi lại tiền vay.
- Ngày 02/10/2023: Ông T cho ông T1, bà L vay tiếp 49.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm. Lãi suất thoả thuận miệng 20%/năm, cam kết bằng miệng sẽ trả lãi đầy đủ, trường hợp không trả lãi thì bên ông T có quyền đòi lại tiền vay.
- Ngày 17/10/2023: Ông T cho ông T1, bà L vay tiếp 280.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm, lãi suất thoả thuận 20%/năm, trả lãi vào ngày 25 tây hàng tháng. Cam kết bằng miệng sẽ trả lãi đầy đủ, trường hợp không trả lãi thì bên ông T có quyền đòi lại tiền vay.
- Ngày 09/11/2023: Ông T1, bà L vay thêm của ông T 189.000.000 đồng nên ông T yêu cầu họ đến Văn phòng C để ký kết hợp đồng vay. Tại Phòng Công chứng, ông T, ông T1 và bà L đã ký kết hợp đồng vay tiền và ông T đã giao thêm cho ông T1 bà L là 189.000.000 đồng nên ký kết hợp đồng vay với số tiền là 700.000.000 đồng.
Để bảo đảm cho số tiền vay này, ông T1, bà L có ký kết hợp đồng vay tài sản có biện pháp bảo đảm cùng ngày nhưng hợp đồng không ghi rõ ngày tháng năm. Theo hợp đồng này, ông T1, bà L đồng ý bảo đảm nghĩa vụ thanh toán vốn, lãi bằng quyền sử dụng thửa đất số 70 (tờ bản đồ số 96), diện tích 5.015.7m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa CI 087236, số vào sổ CS10070 ngày 19/6/2017 mang tên Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thị Ngọc L.
Từ khi nhận đủ tiền vay đến nay, ông T1 bà L chưa nộp lãi cho ông T lần nào. Do ông T nhiều lần tìm kiếm yêu cầu trả lãi như đã cam kết bên ngoài nhưng ông T1, bà L không thực hiện. Do đó, T yêu cầu ông T1, bà L trả nợ trước hạn nhiều lần, ông T1 bà L có hứa hẹn sẽ sắp xếp nguồn tiền trả lại nhưng không thực hiện nên ông T mới khởi kiện. Căn cứ vào Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023 và Hợp đồng vay tài sản có biện pháp bảo đảm không đề ngày tháng năm, ông T yêu cầu ông T1 và bà L trả cho ông tiền vốn vay còn nợ là 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng.
* Theo Đơn yêu cầu phản tố ngày 03/5/2024 (nộp cho Tòa án ngày 06/5/2024), đồng bị đơn là ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:
Ông bà xác định ông bà chỉ vay của ông T số tiền là 470.000.000 đồng. Cụ thể, lần đầu vay 150.000.000 đồng, lần thứ hai vay 40.000.000 đồng và lần thứ 3 vay 280.000.000 đồng, lãi suất là 15%/ngày. Do lần vay số tiền 150.000.000 đồng, ông bà không nộp lãi nên ông T buộc viết biên nhận cộng thêm tiền lãi 32.000.000 đồng thành 182.000.000 đồng. Lần vay thứ 02, ông bà chỉ vay là 40.000.000 đồng nhưng viết biên nhận là 49.000.000 đồng, tức là có 9.000.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 09/11/2024, do cần tiền nên ông bà có hỏi vay thêm ông T 189.000.000 đồng và ông bà cùng ông T ký kết hợp đồng vay tại Văn phòng Công chứng với số tiền vay là 700.000.000 đồng. Số tiền 700.000.000 đồng là cộng các lần vay trước theo 03 biên nhận. Tuy nhiên, sau khi ký kết hợp đồng xong, ông T không cho ông bà vay tiếp như đã hứa. Do đó, ông, bà yêu cầu hủy hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023, không thừa nhận số tiền nợ ông T là 511.000.000 đồng. Đồng ý trả lại ông T số tiền thực vay là 470.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà:
Ông Nguyễn Tín E là người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Ông T đã giao đủ số tiền 700.000.000 đồng cho ông T1 bà L theo Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023. Số tiền này được giao theo 03 Thỏa thuận vay tiền ngày 24/9/2023, 02/10/2023, 17/10/2023 và ngày 09/11/2023, ông T giao thêm 189.000.000 đồng. Mặc dù không có biên nhận thể hiện việc giao đủ tiền vay nhưng ông T có chứng cứ để chứng minh ngày 09/11/2023 ông có giao ông T1, bà L số tiền 189.000.000 đồng, thể hiện là việc ông T1, bà L đồng ký tên Hợp đồng vay tài sản (có biện pháp bảo đảm) cùng ngày. Hợp đồng này được ký kết ngay sau khi ông T1 bà L nhận đủ 189.000.000 đồng. Ngoài ra, ngày 09/11/2023, ông T có rút 100.000.000 đồng từ Ngân hàng ra cùng với số tiền có sẵn ở nhà để giao 189.000.000 đồng cho ông T1, bà L. Do đó, ông T yêu cầu ông T1, bà L phải trả cho ông T số tiền là 700.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023, yêu cầu công nhận Hợp đồng vay tài sản (có biện pháp bảo đảm) không đề ngày tháng năm giữa ông T, ông T1, bà L.
Ông Nguyễn Minh T1 trình bày: Do cần tiền để điều trị bệnh cho mẹ vợ nên vợ chồng ông có vay của ông T 03 lần tiền theo 03 văn bản thỏa thuận như ông T đã trình bày. Mặc dù, số tiền mà vợ chồng ông nhận của ông T là 470.000.000 đồng nhưng ông đồng ý trả cho ông T là 511.000.000 đồng theo 03 văn bản nhận tiền vào các ngày 24/9/2023, 02/10/2023 và ngày 17/10/2023. Về số tiền 189.000.000 đồng vợ chồng ông không nhận được. Ông T hứa sau khi ký Hợp đồng vay tài sản có công chứng sẽ giao 189.000.000 đồng còn lại nhưng sau đó không cho vợ chồng ông vay tiếp. Đối với Hợp đồng vay tài sản (có biện pháp bảo đảm không đề ngày tháng năm) là ông T yêu cầu ông ký tên, ông chưa giao cho ông T quản lý bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa CI 087236, số vào sổ CS10070 ngày 19/6/2017. Đồng thời, thửa đất số 70, thuộc tờ bản đồ số 96 đã bị Chi cục thi hành án thành phố L kê biên. Ông không có ý kiến gì đối với Hợp đồng vay tài sản (có biện pháp bảo đảm) không ghi ngày tháng năm.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thư ký, Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của BLTTDS. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L phù hợp với Điều 227 của BLTTDS.
Về nội dung:
Đối với yêu cầu trả tiền vay: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sự thừa nhận của ông T1, bà L là đủ căn cứ để xác định giữa các bên tự nguyện xác lập hợp đồng vay tài sản có thời hạn và có lãi. Nay, ông T1 bà L đồng ý trả lại tiền vay. Phía nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh đã giao đủ tài sản vay theo Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023 và phía bị đơn không chứng minh được ông bà chỉ nhận tiền vay là 470.000.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 470, 466 của Bộ luật dân sự (BLDS) chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại tiền vay là 511.000.000 đồng; không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 189.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu công nhận Hợp đồng vay tài sản (có biện pháp bảo đảm) không ghi ngày tháng năm: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận và tuyên bố vô hiệu do hình thức hợp đồng chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 167, Điều 188 của Luật Đất đai 2013, Điều 500, 501, 502 của BLDS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng dân sự là hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Đồng bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt trực tiếp, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của các Điều 177 và 179 của BLTTDS cho các bị đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà L tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của BLTTDS, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà L.
- Ông Trần Minh T là nguyên đơn trong vụ án ủy quyền cho ông Nguyễn Tín E. Việc ủy quyền được lập thành văn bản, được chứng nhận và nội dung ủy quyền không trái với quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về Đơn yêu cầu phản tố đề ngày 03/5/2024 của ông T1, L: Đơn yêu cầu phản tố này được nộp đến Tòa án sau khi Tòa án đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2024/QĐXXST-DS. Như vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn được đưa ra sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng và hòa giải. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không thụ lý yêu cầu phản tố của ông T1, bà L.
[5] Về điều kiện khởi kiện: Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023 thể hiện thời hạn các bên thỏa thuận vay là 01 năm kể từ ngày hợp đồng được chứng nhận. Phía ông T cho rằng, giữa ông bà ông T1, bà L có thỏa thuận miệng về việc không trả lãi theo đúng cam kết, thì bên cho vay có quyền thu hồi nợ trước hạn. Trước khi gửi đơn khởi kiện, ông T nhiều lần yêu cầu trả nợ trước hạn và gửi thông báo thu hồi nợ trước hạn cho ông T1, bà L. Xét thấy, tại Đơn phản tố, cũng như tại phiên tòa hôm nay phía bị đơn thừa nhận có quan hệ vay tài sản của nguyên đơn và đồng ý trả lại tiền thực vay. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xem xét yêu cầu trả nợ của nguyên đơn.
Về nội dung:
[6] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là: Bản chính văn bản Thỏa thuận vay tiền ngày 24/9/2023 số tiền vay là 182.000.000 đồng, giữa bên cho vay là ông T và bên vay là ông T1, bà L; bản chính văn bản Thỏa thuận vay tiền ngày 02/10/2023 số tiền vay là 49.000.000 đồng giữa bên cho vay là ông T và bên vay là ông T1, bà L; bản chính văn bản Thỏa thuận vay tiền ngày 17/10/2023 số tiền vay là 280.000.000 đồng, giữa bên cho vay là ông T và bên vay là ông T1, bà L; bản chính Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023 với số tiền vay là 700.000.000 đồng giữa bên cho vay là ông T và bên vay là ông T1, bà L được chứng nhận tại Văn phòng C1 ngày; Bản chính Hợp đồng vay tài sản có biện pháp bảo đảm không đề ngày tháng năm giữa bên cho vay là ông T và bên vay là ông T1, bà L.
[7] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sự thừa nhận của bị đơn là đủ cơ sở để xác định giữa ông T và ông T1, bà L tự nguyện xác lập giao dịch dân sự là hợp đồng vay tài sản có thời hạn và có lãi. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 465, 466, 470 của BLDS 2015 để xem xét, giải quyết.
[8] Ông T cho rằng ông đã giao đủ số tiền vay 700.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023 cho ông T1, bà L. Cụ thể, ngày 24/9/2023 giao cho ông T1 nhận số tiền 182.000.000 đồng theo Thỏa thuận vay tiền ngày 24/9/2023; ngày 02/10/2023 giao cho ông T1 nhận số tiền 49.000.000 đồng theo Thỏa thuận vay tiền ngày 02/10/2023; ngày 17/10/2023, giao cho ông T1 nhận 280.000.000 đồng theo Thỏa thuận vay tiền ngày 17/10/2023 và ngày 09/11/2023 giao cho ông T1, bà L nhận 189.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông T1, bà L không ký biên nhận có nhận số tiền 189.000.000 đồng mà ông T1, bà L ký tên tại Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023.
[9] Tại Điều 5 của Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023 thể hiện:
“1. Bên A giao tài sản cho bên B bằng tiền mặt số tiền 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng Việt Nam) sau khi ký hợp đồng vay.
2. Việc giao nhận tiền vay do hai bên tự thực hiện và tự chịu trách nhiêm trước pháp luật”
Xét thấy, ngoài lời khai ra, ông T không cung cấp được biên nhận nhận tiền thể hiện ông T1, bà L có nhận đủ số tiền 700.000.000 đồng hoặc 189.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện cho ông T cung cấp thêm tài liệu là các bản sao kê tài khoản tại ngân hàng mang tên ông T. Tuy nhiên, các tài liệu này chỉ là bản photo, không có giá trị chứng minh nên không được xem xét. Như vậy, không có căn cứ để Hội đồng xét xử xác định ông T đã giao đủ tài sản vay cho ông T1, bà L là 700.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào văn bản thỏa thuận vay tiền vào các ngày 04/9/2023, 02/10/2023, 17/10/2023, Hội đồng xét xử xác định ông T1, bà L có vay của ông T số tiền là 511.000.000 đồng.
[10] Đối với lời trình bày của ông T1, bà L về việc ông bà vay của ông T thực tế là 470.000.000 đồng: Xét thấy, ông T1 bà L cho rằng số tiền mà ông bà vay của ông T chỉ là 470.000.000 đồng. Cụ thể, lần ký biên nhận vay 182.000.000 đồng thì vốn là 150.000.000 đồng, lãi là 32.000.000 đồng; lần ký biên nhận 49.000.000 đồng là vốn vay 40.000.000 đồng, lãi là 9.000.000 đồng. Ngoài lời khai ra, ông T1, bà L không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Đồng thời, không được phía ông T thừa nhận. Do đó, không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai nại này của ông T1, bà L.
[11] Xét thấy, việc ông T1, bà L không trả lại tiền đã vay cho ông T là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 466, buộc ông T1, bà L phải trả cho ông T số tiền là 511.000.000 đồng.
[12] Về việc trả lãi vay: Do nguyên đơn không yêu cầu ông T1 bà L trả lãi nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[13] Về Hợp đồng vay tài sản (có biện pháp bảo đảm không đề ngày tháng năm) giữa ông T, ông T1, bà L: Các đương sự thừa nhận, từ khi ký kết hợp đồng đến nay, ông T1, bà L không giao cho ông T quản lý bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CS10070 ngày 19/6/2017, bà L cũng không ký tên vào hợp đồng. Ngoài ra, nội dung hợp đồng không ghi rõ biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cụ thể được liệt kê tại Điều 292 của BLDS. Đồng thời, hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định tại khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 501, Điều 502 của BLDS. Như vậy, hợp đồng này về hình thức và nội dung không phù hợp quy định của luật. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 117 của BLDS, Hội đồng xét xử tuyên bố vô hiệu hợp đồng này và do hợp đồng bị vô hiệu nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các chủ thể tham gia.
[14] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[14.1] Nguyên đơn không phải chịu án phí đối với yêu cầu được chấp nhận và phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận. Số tiền án phí mà nguyên đơn phải chịu là 9.450.000 (chín triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng. Do ông T đã nộp tạm ứng án phí là 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng theo biên lai thu số 0001723 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, ông T được nhận lại 6.550.000 (sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng.
[14.2] Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.440.000 (hai mươi bốn triệu bốn trăm bốn mươi nghìn) đồng.
QUYẾT ĐỊNH
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 117, Điều 122, Điều 357, Điều 463, 465, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Trần Minh T về việc yêu cầu ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc L phải trả cho ông số tiền là 189.000.000 (một trăm tám mươi chín triệu) đồng.
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn là ông Trần Minh T.
Buộc ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thị Ngọc L phải có nghĩa vụ trả cho ông Trần Minh T số tiền vay còn nợ là 511.000.000 (năm trăm mười một triệu) đồng. Số tiền này xuất phát từ Thỏa thuận vay tiền ngày 24/9/2023, Thỏa thuận vay tiền ngày 02/10/2023, Thỏa thuận vay tiền ngày 17/10/2023, Hợp đồng vay tài sản ngày 09/11/2023 giữa bên cho vay là ông T và bên vay là ông T1, bà L, được chứng nhận tại Văn phòng C1 ngày.
Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng vay tài sản (có biện pháp bảo đảm) không ghi ngày tháng năm giữa ông Trần Minh T và ông Nguyễn Minh T1.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
[3.1] Ông Trần Minh T phải chịu án phí là 9.450.000 (chín triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng. Do ông T đã nộp tạm ứng án phí là 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng theo biên lai thu số 0001723 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, ông T được nhận lại 6.550.000 (sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng.
[3.2] Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.440.000 (hai mươi bốn triệu bốn trăm bốn mươi nghìn) đồng.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích theo Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 186/2024/DS – ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 186/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn
