|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-THÁI NGUYÊN Bản án số: 186/2025/HSST Ngày 25/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đức Thọ
2. Ông Nguyễn Hữu Long
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2025/TLST-HS, ngày 01 tháng 12 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Á, tên gọi khác: không, sinh ngày 07/10/1987. Nơi ĐKHKTT: Xóm Đ, phường P, tỉnh Thái Nguyên. Nơi ở: Tổ dân phố M, phường P, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh. Con ông Nguyễn Văn T, con bà Lê Thị Á1; Vợ là Nguyễn Thị Kiều T1; Có hai con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 145/2013/HS-ST ngày 26/4/2013, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, đã chấp hành xong hình phạt; Nộp án phí ngày 4/4/2014.
- * Bị hại: 1. Chị Hoàng Thị H, sinh năm: 1982. Có đơn xin vắng mặt
- 2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1958. Có đơn xin vắng mặt
- Đều trú tại: xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên.
- * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Chu Quang T2, sinh năm 1976, trú tại xóm Đ, xã T, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn xin xét xử vắng mặt
- * Người làm chứng:
- 1. Anh Hoàng Văn P, sinh năm: 1984, trú tại: xóm P, xã T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt
- 2. Anh Phùng Ngọc T3, sinh năm 1990, trú tại xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn xin vắng mặt
- * Người chứng kiến: Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1963, trú tại xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 10/6/2025, Nguyễn Văn Á cùng Hoàng Văn P, anh Trần Văn D, anh Chu Quang T2 và anh Đặng Văn T4, cùng đến quán ông Mai Xuân H2 tại xóm L, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên để ăn sáng và có sử dụng rượu, sau khi ăn xong Á để quên chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 plus tại quán, anh T2 và P rủ nhau đến nhà anh Nguyễn Văn V có vợ là Hoàng Thị H. Á đi cùng, anh P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn xanh, biển kiểm soát 20H1-341.63 chở Á, anh T2 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda dream, màu sơn nâu biển kiểm soát 20H1- 634.42. Khi đến nơi do say rượu nên Á nằm ở ghế băng phòng khách nhà anh V, anh T2 và P ngồi chơi khoảng 30 phút thì anh T2 về trước còn P đi cắt tóc được khoảng 10 phút thì anh V gọi P về đón Á. Lúc này, Á ngủ dậy nhưng không thấy chiếc điện thoại của mình nên hỏi vợ của anh V là chị H, chị H nói không biết. Sau khi biết P cắt tóc gần đó Á đến và nói với P việc bị mất điện thoại ở nhà anh V, Á và P cho rằng người nhà anh V lấy điện thoại của Á nên cùng nhau quay lại nhà anh V để hỏi về chiếc điện thoại. Khi đến, Á hỏi chị H về chiếc điện thoại, chị H nói không biết thì Á và P to tiếng cho rằng người nhà chị H lấy điện thoại của Á, đề nghị chị H gọi anh V về giải quyết, chị H nói không ai lấy điện thoại của Á rồi đi xuống bếp phía sau trong nhà, Á bực tức đã lấy 01 chiếc kéo có lưỡi kéo bằng kim loại, chuôi kéo bằng nhựa màu xanh-vàng kích thước (4 x 8,5)cm tại tủ bán hàng ăn để trước cửa nhà rồi đi xuống bếp, thấy chị H đang ngồi làm đồ ăn, Á tiến đến phía sau chị H vòng tay trái từ sau về trước kẹp cổ chị H, tay phải dí mũi kéo vào cổ chị H rồi kéo chị H đứng dậy, nói to “Trả tao điện thoại” chị H hoảng sợ nói “Không biết, để gọi anh V về hỏi”, Á bỏ tay kẹp cổ và mũi kéo ra khỏi cổ chị H, chị H hoảng sợ đi ra trước cửa nhà thì Á đi theo, bỏ chiếc kéo lên trên tủ lạnh nhà chị H, tiếp tục đứng phía sau chị H dùng tay trái kéo tóc chị H ngược về sau, nói “Trả điện thoại tao”, tay phải Á cầm điều cày hút thuốc lào bằng tre dọa đánh chị H, thì bà Nguyễn Thị H1 là chị anh V đến can ngăn nói “Mày làm gì đấy”, Á chửi và cầm điều cày dọa bà H1 nói về việc mất điện thoại ở nhà chị H, bà H1 nói không ai lấy điện thoại của Á, thì Á bực tức mở tủ kính bán hàng của chị H lấy 01 con dao lưỡi dao bằng kim loại, chuôi bằng gỗ kích thước (6,5 x 20,5) cm, đứng phía sau bà H1 vòng tay trái từ sau ra trước bóp cổ bà H1, tay phải kề lưỡi dao vào cổ bà H1 nói “Bà có muốn chết không, bà muốn chết hay sống”. Bà H1 bị bóp cổ không nói được gì, khoảng 20 giây thì Á bỏ tay và dao ra khỏi cổ bà H1 rồi để dao vào tủ bán hàng. Bà H1, chị H do lo sợ Á sẽ giết mình nên bỏ chạy sang nhà bà H1. Lúc này anh Chu Quang T2 điều khiển xe mô tô dừng trước cửa nhà chị H. Á nghĩ anh T2 là chủ nhà nên bảo anh T2 “Mày là chủ nhà à” rồi dùng tay phải tát vào mặt và dùng chân đạp vào người anh T2, Á tiếp tục nhảy lên để đạp vào người anh T2 thì bị trượt chân ngã, anh T2 tiến tới dùng tay đánh Á, Á vùng dậy bỏ chạy. Sau đó Tổ công tác của Công an xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên cũ đến lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng và đưa Á, P cùng người liên quan về trụ sở Công an xã giải quyết theo quy định.
Cùng ngày chị Hoàng Thị H cung cấp 02 tập tin chứa dữ liệu điện tử, lưu trữ trong 01 đĩa DVD niêm phong (ký hiệu “H”). Ngoài ra, qua rà soát khu vực xung quanh hiện trường, tiếp tục thu giữ 01 tập tin dữ liệu điện tử từ camera an ninh Công an xã B, lưu trữ trong 01 đĩa DVD niêm phong (ký hiệu “T”). Tiến hành mở niêm phong kiểm tra dữ liệu điện tử, kết quả:
Kiểm tra dữ liệu điện tử được niêm phong (ký hiệu “H”) bên trong chứa 02 tập tin: Tập tin 01 có thời lượng 07 phút 37 giây, có hình ảnh 02 nam giới một người mặc áo phông trắng, quần short bò đang ngồi trên xe mô tô AirBlade màu xanh dương là Hoàng Văn P, một người đàn ông mặc áo phông ngắn tay màu đen, quần màu đen là Nguyễn Văn Á và một người phụ nữ một người mặc áo phông màu trắng sọc nâu, quần short màu cam là chị Hoàng Thị H, P và Á liên tục hỏi chị H về việc có cầm điện thoại của Á không thì trả lại, lúc sau Á dùng tay phải lấy chiếc kéo từ trong tủ kính để đi vào nhà. Tập tin 02 có thời lượng 06 phút 48 giây, có hình ảnh Nguyễn Văn Á, Hoàng Văn P và chị Hoàng Thị H có lời qua tiếng lại, Á nói “Gọi về đây trả điện thoại không tao đốt nhà”, sau đó có một người phụ nữ mặc áo cộc tay màu đỏ mận, quần dài đen đi từ nhà bên cạnh tới là bà Nguyễn Thị H1, bà H1 nói “Mày làm cái gì đấy”, Á đáp “Bà muốn chết à” sau đó Á cầm điều cày giơ lên dọa đánh bà H1. Sau lời qua tiếng lại thì Á dùng tay phải lấy từ trong tủ kính 01 con dao dài khoảng 30cm, tiến đến chỗ bà H1 dùng tay trái bóp cổ đồng thời quàng tay phải đang cầm dao qua cổ bà H1 và nói “Bà có muốn chết không, bà muốn chết hay sống” sau đó bà H1 và chị H chạy sang nhà bên cạnh. Niêm phong lại (ký hiệu “H1”).
Kiểm tra dữ liệu điện tử được niêm phong (ký hiệu “T”) bên trong chứa 01 tập tin có thời lượng 03 phút 59 giây, phát hiện có 01 người đàn ông mặc áo phông hồng, quần short đen điều khiển xe mô tô Honda Dream là anh Chu Quang T2 đỗ trước cửa nhà chị H, Á dùng tay phải tát vào mặt đồng thời đạp chân phải vào bụng của anh T2, thì anh T2 bỏ chạy, Á tiếp tục đuổi theo đạp tiếp nhưng bị trượt chân nên ngã xuống. Thấy Á bị ngã nên T2 lao vào dùng tay đấm nhiều nhát vào mặt và người Á, sau đó Á bỏ chạy. Niêm phong lại “ký hiệu “T1”).
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 578/KLTTCT-TTPY ngày 29/8/2025, của Trung tâm Pháp y Sở Y đối với Chu Quang T2, kết luận: Gãy rạn 02 xương sườn 10 và 11 bên trái can tốt... Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 04%. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 579/KLTTCT-TTPY ngày 05/9/2025, của Trung tâm Pháp y Sở Y đối với Nguyễn Văn Á, kết luận: Gãy 01 chiếc răng cửa... Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 02%.
Vật chứng của vụ án: 01 chiếc điều cày hiện không thu giữ được; 01 con dao lưỡi dao bằng kim loại, chuôi bằng gỗ kích thước 6,5 x 20,5cm niêm phong ký hiệu D; 01 chiếc kéo lưỡi kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu xanh-vàng kích thước 4 x 8,5cm, niêm phong ký hiệu K. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Thái Nguyên. Đĩa DVD lưu hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Bị hại (bà H1, chị H) đồng ý lời xin lỗi của bị cáo, thoả thuận giải quyết tình cảm, không yêu cầu Á bồi thường thiệt hại. Bị cáo và anh T2 không yêu cầu giải quyết vết thương tích của mình.
Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKS-KV1, ngày 01/12/2025, VKSND khu vực 1-Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Á về tội “Đe dọa giết người”.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận diễn biến phạm tội như cáo trạng mô tả, đồng ý với tội danh, điều khoản, khoản Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo đã đến nhà xin lỗi bị hại và được chị H, bà H1 đồng ý, không yêu cầu bồi thường. Bị cáo giao nộp cho Hội đồng xét xử 03 đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của chị H, bà H1, anh T2
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Á phạm tội “Đe dọa giết người”.
+ Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 133; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
+ Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao lưỡi dao bằng kim loại, chuôi bằng gỗ kích thước 6,5 x 20,5cm; 01 chiếc kéo lưỡi kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu xanh-vàng kích thước 4 x 8,5cm. Lưu hồ sơ vụ án đĩa DVD ghi lại diễn biến vụ việc.
+ Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.
Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo là khách quan phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến, biên bản sự việc, vi deo ghi lại diễn biến vụ việc, kết luận giám định và những chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 10/6/2025, tại nhà ở của chị Hoàng Thị H có địa chỉ tại xóm T, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn Á đã có hành vi bóp cổ, sử dụng hung khí là dao, kéo và điều cày để dọa giết chị Hoàng Thị H và bà Nguyễn Thị H1. Hậu quả làm cho chị Hoàng Thị H và bà Nguyễn Thị H1 lo sợ rằng Á sẽ giết mình nên bỏ chạy sang nhà bà H1.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Á về tội “Đe dọa giết người” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Nội dung điều luật như sau:
“Điều 133. Tội đe dọa giết người
1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đối với 02 người trở lên ... ”.
[3] Xét hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người, đe dọa đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu từng bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng không lấy đó làm gương mà vẫn tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị hại (bà H1, chị H) và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh T2) đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc.
[4] Về vật chứng: Đối với vật chứng là 01 con dao lưỡi dao bằng kim loại, chuôi bằng gỗ kích thước (6,5 x 20,5) cm; 01 chiếc kéo lưỡi kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu xanh - vàng kích thước (4 x 8,5) cm tịch thu tiêu hủy. Lưu hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD ghi lại hình ảnh vụ việc.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà H1, chị H, anh T2 chấp nhận lời xin lỗi của bị cáo, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[7] Các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, Nguyễn Văn Á có hành vi dùng tay, chân đánh anh Chu Quang T2 gây ra thương tích cho anh T2 là 04%. Do chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với Á là đúng quy định.
Đối với hành vi anh Chu Quang T2 đánh trả lại Á gây ra thương tích cho Á 02%. Hành vi của anh T2 thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 133; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Á phạm tội “Đe dọa giết người”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Á 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS,
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao lưỡi dao bằng kim loại, loại dao thái chuôi gỗ kích thước 6,5 x 20,5 cm niêm phong ký hiệu D; 01 chiếc kéo, lưỡi bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu xanh - vàng kích thước 4 x 8,5 cm, niêm phong ký hiệu K.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 68 ngày 23/12/2025 giữa Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Thái Nguyên).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST sung quỹ Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (bà H, bà H1) và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh T2) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh TN; - Phòng THADS KV1- Thái Nguyên; - Công an phường Phúc Thuận, tỉnh TN; - Bị cáo; Bị hại; NLQ. - Lưu hồ sơ; VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tứ Xuân |
Bản án số 186/2025/HSST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-THÁI NGUYÊN về đe dọa giết người
- Số bản án: 186/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đe dọa giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn A phạm tội " đe doạ giết người"
