Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 19-6-2025

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Cường và ông Nguyễn Văn Cường;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thúy Hương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội;

Mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 93/2025/TLST-HNGĐ ngày 25-3-2025, về việc: Ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 130/2025/QĐXX-ST ngày 08-5-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/QĐ-HPT ngày 30-5-2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Chu Thị C, sinh năm 1989; HKTT: Thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội; Hiện ở: Số nhà E B hausu tagawa 2, khu S, thị trấn A, thành phố T, tỉnh F, Nhật Bản.

- Bị đơn: Anh Phạm Ngọc H, sinh năm 1985; Nơi thường trú: và chỗ ở: Thôn P, xã P, huyện C, thành phố H.

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và các văn bản gửi Tòa án, nguyên đơn là chị Chu Thị C trình bày: Chị và anh Phạm Ngọc H kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 28/08/2008 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, thành phố H. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính cách, vợ chồng không thống nhất và bất đồng quan điểm trong việc giáo dục nuôi dạy con chung.

Từ năm 2023, chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Mâu thuẫn vợ chồng càng trở lên căng thẳng và không khắc phục được mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải. Vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, người nào biết bổn phận người đó và đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn không có khả năng đoàn tụ yêu cầu được ly hôn anh Phạm Ngọc H.

Về con chung: Chị và anh H có 03 con chung là: Cháu Phạm Thị Thu H1, sinh ngày: 12/6/2009; cháu Phạm Thị Thanh T, sinh ngày: 21/3/2011 và cháu Phạm Thị Thanh N, sinh ngày: 20/01/2016. Hiện tại cả ba cháu đang ở cùng anh H và ông bà nội. Ly hôn chị có nguyện vọng để anh H được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung, chị cấp dưỡng nuôi con chung là: 4.500.000đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn: Anh Phạm Ngọc H đã được tống đạt văn bản hợp lệ, triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không đến Tòa thực hiện quyền nghĩa vụ tố tụng, không có bản tự khai theo yêu cầu của Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Nguyên đơn chị Chu Thị C vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hợp lệ. Nội dung đơn thể hiện chị C giữ nguyên yêu cầu, ý kiến trình bày tại đơn khởi kiện.

- Bị đơn anh Phạm Ngọc H vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:

Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Chu Thị C là người Việt Nam, hiện ở nước ngoài (Nhật Bản), bị đơn anh Phạm Ngọc H đang cư trú tại thôn P, xã P, huyện C, thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo thực hiện trước và tại phiên tòa. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn đã đảm bảo thủ tục theo quy định.

Về nội dung: Về tình cảm: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Chu Thị C.

Về con chung: Xác nhận chị C và anh H có 03 con chung là: Cháu Phạm Thị Thu H1, sinh ngày: 12/6/2009; cháu Phạm Thị Thanh T, sinh ngày: 21/3/2011 và cháu Phạm Thị Thanh N, sinh ngày: 20/01/2016. Giao cả 03 con chung cho anh Phạm Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là: 4.500.000đồng/tháng (1.500.000/tháng đối với mỗi cháu). Việc cấp dưỡng được thực hiện từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi cháu H1, cháu T, cháu N đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định pháp luật khác thay thế.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại công khai tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng.

Nguyên đơn là chị Chu Thị C là người Việt Nam, hiện ở nước ngoài (Nhật Bản), bị đơn anh Phạm Ngọc H đang cư trú tại P, xã P, huyện C, thành phố H nên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành làm việc với chính quyền địa phương (UBND xã P) để tống đạt văn bản tố tụng cho anh Phạm Ngọc H nhưng anh H vắng mặt không có lý do không đến tham gia phiên tòa. Chị Chu Thị C có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung.

[2.1]. Về tình cảm: Chị Chu Thị C và anh Phạm Ngọc H kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 28-8-2008 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, thành phố H. Quan hệ hôn nhân giữa chị Chu Thị C và anh Phạm Ngọc H là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

Quá trình anh chị chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp và bất đồng trong việc giáo dục con chung. Năm 2023, chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Từ khi chị đi N thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, trầm trọng và không thể khắc phục. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Hiện tại chị vẫn sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn không có khả năng đoàn tụ yêu cầu được ly hôn anh Phạm Ngọc H.

Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế, vợ chồng chị C và anh H đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay, giữa anh chị không có sự quan tâm chia sẻ, chăm sóc giúp đỡ nhau. Với thực trạng hôn nhân của anh chị như hiện nay khẳng định giữa anh chị không tồn tại cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc chứng tỏ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không đến Tòa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng, không có văn bản thể hiện quan điểm mong muốn hàn gắn tình cảm để vợ chồng đoàn tụ. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị C là có căn cứ cần được chấp nhận. Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị C đối với anh Phạm Ngọc H.

[2.2]. Về con chung: Chị C và anh H có 03 con chung là: Cháu Phạm Thị Thu H1, sinh ngày: 12/6/2009; cháu Phạm Thị Thanh T, sinh ngày: 21/3/2011 và cháu Phạm Thị Thanh N, sinh ngày: 20/01/2016. Ly hôn, chị C có nguyện vọng để anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 3 con chung và chị đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là: 4.500.000đồng/tháng (1.500.000đồng/tháng đối với mỗi con).

Từ khi chị C sang N sinh sống làm việc và anh chị ly thân, các con chung của anh chị vẫn ở với anh H và ông bà nội - là bố mẹ đẻ anh H. Các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đều có nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội. Chị C cũng có quan điểm tôn trọng ý kiến nguyện vọng của con chung và để anh H trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung. Chị cấp dưỡng nuôi con chung là: 4.500.000đồng/tháng (1.500.000đồng/tháng đối với mỗi con). Xét yêu cầu của chị C thấy phù hợp với thực tế với quy định của pháp luật và nguyện vọng của con chung nên căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét giao cả 03 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi cho con chung và không làm xáo trộn cuộc sống của con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là: 4.500.000đồng/tháng (1.500.000đồng/tháng đối với mỗi con) nên ghi nhận.

[2.3]. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Chu Thị C xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

[3]. Về án phí: Chị Chu Thị C phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 464, Điều 469 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị C. Chị Chu Thị C được ly hôn anh Phạm Ngọc H. Chị Chu Thị Canh Phạm Ngọc H chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Chị Chu Thị Canh Phạm Ngọc H có 03 con chung là: Cháu Phạm Thị Thu H1, sinh ngày: 12/6/2009; cháu Phạm Thị Thanh T, sinh ngày: 21/3/2011 và cháu Phạm Thị Thanh N, sinh ngày: 20/01/2016. Giao cả 03 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 4.500.000đồng/tháng (1.500.000 đồng/tháng đối với mỗi con). Việc cấp dưỡng được thực hiện từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi cháu H1, cháu T, cháu N đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định pháp luật khác thay thế.

Chị Chu Thị C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Chu Thị C không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.

4. Về án phí: Chị Chu Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0079106 ngày 25-3-2025 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội. Chị Chu Thị C đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Chu Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Phạm Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cục THADS TP. Hà Nội;
  • - UBND xã P, huyện C, TP. H;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 186/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C. CHị C được ly hôn anh H. Chị C và anh H chấm dứt quan hệ hôn nhân từ khi ấn có hiệu lực pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger