TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 186/2025/DS-ST Ngày: 23/6/2025 V/v “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sỹ và bà Nguyễn Thị Thuý Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện VKSND TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa L - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 330/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2025/QĐXXST-DS ngày 16.5.2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 242/2025/QÐST-DS ngày 06.6.2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ: 2 N, Phường H, Quận C, TP .
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP S (S1)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Vũ C - Chức vụ: Giám đốc chi nhánh B
Theo Giấy ủy quyền số: 1184/2025/QĐ-PC ngày 15.4.2025 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ: I M, thành phố Q, tỉnh Bình Định
Uỷ quyền lại: Ông Trần Đức H – Trưởng phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng TMCP S chi nhánh B.
Theo văn bản uỷ quyền số 62/2025/GUQ-CNBĐ ngày 30.5.2025
* Bị đơn: Bà Lê Nguyễn Khánh T, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố C, P. G, TP ., Bình Định
(Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Trần Đức H vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn bà Lê Nguyễn Khánh T vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05.11.2024 và các lời khai tiếp theo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn do anh Trần Đức H trình bày:
Ngày 07.9.2022, căn cứ thu nhập của bà Lê Nguyễn Khánh T, Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất: 31,2%/năm cho bà Lê Nguyễn Khánh T theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, tính đến ngày 05.11.2024, bà T đã thực hiện các giao dịch với số tiền là: 34.933.412 đồng, phí trễ hạn: 1.539.076 đồng, tiền lãi: 19.690.883 đồng, phí vượt hạn mức 372.518 đồng, phí thường niên: 439.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 10.11.2023 bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 18.180.995 đồng. Tuy nhiên, kể từ tháng 12.2023 bà T không thực hiện thanh toán nợ vay cho Ngân hàng nữa. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà T thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng của bà T vào ngày 10.3.2024, Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Đến ngày 10.01.2025 bà T đã thanh toán cho Ngân hàng với số tiền 6.151.000 đồng. Tính đến ngày 23.6.2025, bà Lê Nguyễn Khánh T hiện còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền là 40.909.454 đồng, trong đó nợ gốc: 23.298.374 đồng; nợ lãi quá hạn: 17.611.080 đồng. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Nguyễn Khánh T phải trả cho ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 23.6.2025 là 40.909.454 đồng, trong đó nợ gốc: 23.298.374 đồng; nợ lãi quá hạn: 17.611.080 đồng và buộc bà Lê Nguyễn Khánh T còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23.6.2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Ngoài ra, Ngân hàng TMCP S không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là bà Lê Nguyễn Khánh T vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không chấp hành triệu tập của Tòa, không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX: Căn cứ Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Buộc bà Lê Nguyễn Khánh T phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 23.6.2025 là 40.909.454 đồng, trong đó nợ gốc: 23.298.374 đồng; nợ lãi quá hạn: 17.611.080 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh tính theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 08.9.2022 kể từ ngày 24.6.2025 cho đến khi trả hết nợ vay.
- Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn anh Trần Đức H có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Lê Nguyễn Khánh T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[1.2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng; Bị đơn có cư trú phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định nên xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng:
Ngày 08.9.2022, bà Lê Nguyễn Khánh T vay của Ngân hàng S số tiền 25.000.000 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất theo thoả thuận của hợp đồng 31,20%/năm, kỳ hạn chốt thông báo giao dịch là vào ngày 10 hàng tháng. Hợp đồng nói trên được ký kết bởi các chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên đủ cơ sở để HĐXX xác định giao dịch nói trên đều hợp pháp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 10.11.2023 bà T đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền 18.180.995 đồng, sau đó thì bà T không tiếp tục trả nợ mặc dù Ngân hàng TMCP S đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nợ. Sau khi Toà án thụ lý vụ án, ngày 10.01.2025 bà T đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP S với số tiền 6.151.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng nhiều lần triệu tập và đến nơi cư trú để làm việc nhưng bà T không chấp hành giấy triệu tậ và cũng không đến Tòa khai báo và làm việc.
Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc bà Lê Nguyễn Khánh T có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 23.6.2025 là 40.909.454 đồng, trong đó nợ gốc: 23.298.374 đồng; nợ lãi quá hạn: 17.611.080 đồng. Ngoài ra, bà T còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng tín dụng tính từ ngày 24.6.2025 cho đến khi trả hết nợ.
[3] Về án phí: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà T phải chịu 2.045.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 981.000 đồng.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S.
Buộc bà Lê Nguyễn Khánh T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 23.6.2025 là 40.909.454 (Bốn mươi triệu chín trăm lẻ chín nghìn bốn trăm năm mươi bốn) đồng, trong đó nợ gốc: 23.298.374 (Hai mươi ba triệu hai trăm chín mươi tám nghìn ba trăm bảy mươi bốn) đồng; nợ lãi quá hạn: 17.611.080 (Mười bảy triệu sáu trăm mười một nhìn không trăm tám mươi) đồng .
Ngoài ra, bà T còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 08.9.2022 tính từ ngày 24.6.2025 cho đến khi trả hết nợ.
2. Án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Lê Nguyễn Khánh T phải chịu 2.045.000 đồng (Hai triệu không trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 981.000 đồng (Chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000936 ngày 29.11.2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.
3. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án:
3.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Hồng Diễm |
Bản án số 186/2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 186/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc bà Lê Nguyễn Khánh T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 23.6.2025 là 40.909.454 (Bốn mươi triệu chín trăm lẻ chín nghìn bốn trăm năm mươi bốn) đồng, trong đó nợ gốc: 23.298.374 (Hai mươi ba triệu hai trăm chín mươi tám nghìn ba trăm bảy mươi bốn) đồng; nợ lãi quá hạn: 17.611.080 (Mười bảy triệu sáu trăm mười một nhìn không trăm tám mươi) đồng .
