Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số 186/2025/DS – PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Ngày 24-03-2025

“V/v Tranh chấp QSDĐ”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Minh Hoàng.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh;

Bà Ngô Tuyết Băng.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thùy Trang – Thư ký viên Tòa án.

Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị N - Kiểm sát viên.

Ngày 24/3/2025, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 482/2024/TLPT-DS ngày 14/11/2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DSST ngày 06/9/2024 của TAND huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 106/2025/QĐXX-PT ngày 27/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa ngày 14/3/2025 của TAND Thành phố Hà Nội. Giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Đào Thị Q, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số H K, phường T, quận Đ, Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền của bà Q là ông Đào Văn P, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số H ngõ A K, T, quận Đ, Hà Nội. Có mặt ông P.
  2. Bị đơn:
    1. Ông Ngô Bằng T, sinh năm 1950;
    2. Bà Nguyễn Thị Ô, sinh năm 1950. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ô là ông Ngô Bằng T. Có mặt ông T.

    Cùng địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện S, Thành phố Hà Nội.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Đào Văn P, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số H ngõ A K, phường T, quận Đ, Hà Nội. Có mặt.
    2. Anh Ngô Đức M, sinh năm 1973. Có mặt;
    3. Anh Ngô Triệu Hải S, sinh năm 1984. Có mặt.

    Cùng địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện S, Hà Nội.

    1. Chị Ngô Thị Đức T1, sinh năm 1974. Có mặt;
    2. Anh Vũ Quang T2, sinh năm 2004. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).
  4. Người kháng cáo: Ông Ngô Bằng T là bị đơn. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Khu tập thể N, xã M, huyện S, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án, tại cấp sơ thẩm:

  1. Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

    Nguồn gốc thửa đất số 120, tờ bản đồ số 09 có diện tích 1.030m² (Sau đây viết tắt là thửa đất số 120) đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 291483 ngày 07/3/2008 (Sau đây viết tắt là GCNQSDĐ số AÐ 291483) mang tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Đức D; tại thôn L, xã M, huyện S, Hà Nội. Ngày 12/10/2009, vợ chồng ông D - bà Trần Thị H chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 120 cho ông Nguyễn Thanh B - bà Q; ông B, bà Q đã được Văn phòng đăng ký nhà và đất huyện S đính chính tên chủ sử dụng đất tại GCNQSDĐ số AÐ 291483 ngày 12/11/2009. Ngày 05/4/2021 ông B cho tặng cho Quyên phần của mình trong thửa đất số 120. Văn phòng đăng ký nhà và đất huyện S đính chính tên chủ sử dụng đất là bà Q tại GCNQSDĐ số AÐ 291483 ngày 22/4/2021. Bà Q tự thuê nhân công xây dựng bức tường trên móng tường cũ nhưng cũng không biết quá trình sử dụng trước đó móng và tường có bị dịch chuyển hay không vì từ khi mua đất xong bà Q cũng không ở trên đất nên không biết.

    Ngày 03/6/2021, bà Đào Thị Q tặng cho ông Đào Văn P quyền sử dụng thửa đất số 120. Thửa đất số 120 khi bà Q tặng cho ông P đã được xây tường tại thời điểm mua đất do vợ chồng bà Q tự đo đạc nhưng diện tích đất có đủ so với GCNQSDĐ số AÐ 291483 thì không biết. Khi được bà Q tặng cho, ông P đo đạc lại toàn bộ thửa đất để xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xác định diện tích đất bị thiếu so với diện tích đất trong GCNQSDĐ số AÐ 291483. Sau khi kiểm tra đất phát hiện diện tích của thửa đất số 120 còn 881,5m² đất; thửa đất số 121 của ông T bà Ô lấn chiếm thửa đất số 120 là 127,6m² đất. Thửa đất số 119 của gia đình ông G, bà T3 lấn sang thửa đất số 120 là 20,9m² đất nhưng không đề nghị giải quyết phần bị thửa đất số 119 lấn chiếm trong vụ án này. Bà Q đề nghị buộc hộ ông T - bà Ỗ trả lại cho bà Q 127,6m² đất để bà Q trả lại đất cho ông P.

  2. Bị đơn, ông Thành đồng T4 là đại diện ủy quyền của bà Ỗ trình bày:

    Nguồn gốc thửa đất số 121, tờ bản đồ số 09 (Sau đây viết tắt là thửa đất số 121) tại thôn L, xã M, huyện S là do UBND xã M cấp cho ông theo tiêu chuẩn giãn dân từ trước năm 1980. Sau khi được cấp đất thì gia đình ông đã sử dụng ổn định và làm nhà trên đất ở. Khoảng năm 1993 thì gia đình chuyển về đất cũ của bố mẹ ông để ở, thửa đất số 121 gia đình ông trồng cây và làm vườn. Ngày 08/6/2004 UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L929041 (Sau đây viết tắt là GCNQSDĐ số L929041) cho chủ sử dụng là hộ bà Nguyễn Thị Ổ. Ở phía Tây thửa đất số 121 giáp với thửa đất số 120 trước đây là thửa đất của ông D và bà H. Thửa đất số 120 ông D, bà H được cấp trước đất của gia đình ông. Năm 2003 gia đình ông D chuyển nhượng thửa đất số 120 cho vợ chồng bà Q. Khi ông D chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà Q thì ông D và bà Q có gọi ông ra để xác định ranh giới đất và bà Q là người trực tiếp thuê nhân công về để xây dựng bức tường bao ngăn cách với đất. Hiện nay bức tường này do thời gian đã lâu nên cũng đã có một phần tường bị đổ nhưng phần móng cũ thì vẫn còn nguyên vẹn, các gia đình không có tranh chấp gì. Việc bà Q tặng cho hay chuyển nhượng thửa đất này cho anh P từ khi nào ông không biết. Năm 2021, anh P có đến trao đổi với ông là ông P nhận chuyển nhượng từ bà Q và kiểm tra diện tích thấy thiếu và nói nhà ông có lấn đất. Nay bà Q yêu cầu trả lại đất gia đình ông không đồng ý vì khi bà Q mua đất của ông D đã gọi gia đình ông ra để xác định ranh giới đất và trực tiếp bà Q đã thuê nhân công để xây bức tường để ngăn cách ranh giới đất với gia đình ông nên không có việc gia đình ông lấn chiếm đất của bà Q.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
    1. Ông Đào Văn P trình bày: Năm 2021, ông nhận tặng cho từ bà Q thửa đất số 120. Hai bên đã lập Hợp đồng công chứng tặng cho quyền sử dụng đất (Sau đây viết tắt là HĐTCQSDĐ số CC001093); khi ông đo đạc lại để sang tên GCNQSDĐ số AÐ 291483 thì thấy diện tích của thửa đất số 120 bị thiếu về phía thửa đất số 121 của hộ ông T, ông đã đến gia đình ông T, bà Ỗ yêu cầu trả lại đất nhưng ông T, bà Ổ không nhất trí. Nay ông đề nghị ông T, bà Ô trả lại diện tích đã đã lấn chiếm của bà Q để bà Q giao lại đủ đất cho ông.
    2. Anh Ngô Đức M trình bày: Anh là con của ông T - bà Ổ. Thửa đất số 121 là của bố mẹ anh được cấp theo diện giãn dân. Sau khi được cấp đất bố, mẹ anh đã làm nhà trên đất và cùng anh em sống trên thửa đất này cho đến khoảng năm 1990 khi ông bà nội anh già thì bố mẹ anh chuyển về sống cùng. Năm 1993 thì anh cũng chuyển về ở cùng bố mẹ, từ đó đến nay thửa đất vẫn bỏ không và chỉ để trồng cây. Phía Tây giáp với đất của gia đình ông D, bà H. Sau đó ông D, bà H chuyển nhượng đất cho bà Q. Khi bà Q mua đất của ông D, bà H đã gọi bố anh ra để xác định mốc giới đất và gia đình bà Q là người trực tiếp thuê người xây tường bao ngăn cách ranh giới đất. Nay bà Q yêu cầu gia đình anh trả lại 127,6m² đất vì bà Q cho rằng thiếu đất ở bên phía đất của gia đình anh không đồng ý vì hai bên gia đình đã xác định mốc giới đất bằng bức tường do chính bà Q là người trực tiếp thuê người xây từ năm 2003 đến nay.

Kết quả đo đạc, xem xét thẩm định, Hồ sơ kỹ thuật ngày 04/04/2024. Xác định:

  • Thửa đất số 120 của bà Q đang sử dụng thực tế chỉ còn là 881,5 m²;
  • Thửa đất số 121 hộ ông T - bà Ổ đang quản lý sử dụng là 751m².

Bản án sơ thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 06/09/2024, TAND huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Xử

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Q; Buộc gia đình ông Ngô Bằng T, bà Nguyễn Thị Ô trả lại cho bà Đào Thị Q 127,6 m² đất (có sơ đồ kèm theo) tại thửa số 120, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại thôn L, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội.
  2. Buộc gia đình ông Ngô Bằng T, bà Nguyễn Thị Ổ phải có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản, cây cối nằm trên phần đất của bà Q được giao.

Ngoài ra: Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm; quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận thi hành án của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm. Ông Ngô Bằng T là bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DSST ngày 06/9/2024.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo - Ông T trình bày:

Thửa đất số 121 là do UBND xã M cấp cho ông theo tiêu chuẩn giãn dân từ trước năm 1980. Ông xác định thửa đất số 121 theo GCNQSDĐ số L929041 được đính chính ngày 04/10/2006 thì hộ bà Ổ được quyền sử dụng 590 m² đất. Ông kháng cáo với các nội dung chính sau: Thửa đất số 121 gia đình ông sử dụng từ trước đến nay và được cấp GCNQSDĐ số L929041 trước GCNQSDĐ số AÐ 291483 của ông D. Bà Q khi mua đất của ông D đã mời ông đến để xác định ranh giới; đã xây dựng bức tường làm mốc giới từ năm 2003. Hiện bức tường vẫn còn là mốc giới cố định, nguyên đơn không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ chứng minh ông lấn chiếm đất của họ do đó ông không lấn chiếm thửa đất số 120. Khi Tòa án sơ thẩm xem xét thẩm định tại chỗ ông không cho đo đất của gia đình ông nên ông không chấp nhận “Trích đo hiện trạng thửa đất” (Bút lục số 50). Ngoài ra khi ông P khởi kiện thì có gửi thông báo cho ông, không thấy bà Q thông báo và sau khi sao chụp hồ sơ vụ án ông thấy bà Q chỉ có “ Đơn yêu cầu độc lập” trong hồ sơ, bản án sơ thẩm xác định bà Q là nguyên đơn là không có căn cứ. Ông đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm hoặc bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ông P đại diện theo ủy quyền của bà Q đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Giữ nguyên các quan điểm đã trình bày tại cấp sơ thẩm; không tranh luận gì thêm. Xác định bản án sơ thẩm đã giải quyết đúng pháp luật, bà Q và ông không kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của ông T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Anh M, anh S trình bày: Nhất trí toàn bộ ý kiến tranh luận của ông T, bổ sung thêm: Gia đình các anh không cho cấp sơ thẩm đo thửa đất số 121 nên “Trích đo hiện trạng thửa đất” ngày 04/4/2024 không có giá trị pháp lý; bức tường ngăn giữa thửa đất số 121 và 120 được xây dựng từ năm 2003 nay xây lại cũng trên móng cũ nên đó là ranh giới giữa hai thửa đất.

Chị Ngô Thị Đức T1 trình bày: Nhất trí toàn bộ ý kiến tranh luận của ông T, anh M, anh S không bổ sung gì thêm.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa không gửi văn bản trình bày quan điểm ý kiến với Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên VKSND Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Sau khi đánh giá phân tích về nội dung vụ án theo bản phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1].Về tố tụng

  • Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
  • Do ngày 03/6/2021, bà Q ký HĐTCQSDĐ tặng cho ông P thửa đất số 120 nhưng ông P chưa thực hiện việc đăng ký kê khai, xin cấp mới GGCNQSDĐ vì thửa đất số 120 đo lại diện tích đất thì bị thiếu so với diện tích ghi trong GCNQSDĐ số AÐ 291483 nên các bên xảy ra tranh chấp với thửa đất số 121 của gia đình bà Ô - ông T, ông T đã xuất trình thư của ông P gửi ông T cho rằng đất gia đình ông T lấn sang thửa đất số 120 đề nghị hai bên hòa giải nhưng không kết quả. Do thửa đất số 120 có tranh chấp nên việc tặng cho giữa bà Q với ông P không được thực hiện theo quy định pháp luật. Mặc dù ông P có đơn khởi kiện đối với bị đơn là ông T - bà Ổ. Quá trình giải quyết ngày 15/4/2024 bà Q có đơn yêu cầu độc lập và đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm đề nghị Tòa án buộc ông T - bà Ỗ phải trả bà diện tích 127,6 m² đất đã lấn chiếm thửa đất số 120 của bà để bà tiếp tục tặng cho ông P. Cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 120 vẫn thuộc quyền của bà Q, đã ban hành Thông báo về việc thay đổi tư cách tố tụng: Xác định bà Q từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên có yêu cầu độc lập thành nguyên đơn, ông P là nguyên đơn trở thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ quy định tại Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Anh Vũ Quang T2 là người không kháng cáo có đơn xét xử vắng mặt; bà Q, bà Ổ không kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền của họ có mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt họ là đúng quy định Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về Nội dung:

Xét yêu cầu kháng cáo của ông T, Hội đồng xét xử thấy:

Tại công văn số 240/TNMT ngày 13/05/2024, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện S xác định: Việc cấp GCNQSDĐ số AÐ 291483 cho ông Nguyễn Đức D là chủ sử dụng 1.030 m² đất thửa đất số 120 và việc GCNQSDĐ số L929041 cho hộ bà Nguyễn Thị Ổ là chủ sử dụng 590 m² đất thửa đất số 121 và 165 m² đất thửa đất số 98, tờ bản đồ 09 đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật và quy định của UBND Thành phố H.

Công văn số 706/CNSS ngày 27/05/2024, Văn phòng Đ1 - Chi nhánh S1 xác định: Ngày 06/06/2004, UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số L929041 cho hộ bà Nguyễn Thị Ổ được quyền sử dụng 590 m² đất tại thửa đất số 121 và 165 m² đất tại thửa đất số 98, tờ bản đồ 09. Ngày 04/10/2006, Phòng tài nguyên và Môi trường huyện S đã đính chính GCNQSDĐ số L929041 hộ bà Nguyễn Thị Ổ chỉ còn thửa đất số 121 với diện tích 590m²; không có thửa số 98, tờ bản đồ 09, diện tích 165m² vì “Diện tích 165m² là Cấp nhầm đất của người khác”.

Vợ chồng ông D đã chuyển nhượng 1.030 m² đất thửa đất số 120 cho vợ chồng ông B – bà Q; vợ chồng ông B – bà Q được đính chính là chủ sử dụng 1.030 m² đất thửa đất số 120 tại GCNQSDĐ số AÐ 291483; ông B tặng cho phần của mình cho bà Q; bà Q được đính chính là chủ sử dụng 1.030 m² đất thửa đất số 120 tại GCNQSDĐ số AÐ 291483 ngày 22/4/2021.

Không có bất kỳ đương sự nào khiếu nại việc: Bà Q được đính chính là chủ sử dụng 1.030 m² đất thửa đất số 120 tại GCNQSDĐ số AÐ 291483 ngày 22/4/2021; Hộ bà Nguyễn Thị Ổ được đính chính là chủ sử dụng 590m² đất tại thửa đất số 121 tại GCNQSDĐ số L929041 ngày 04/10/2006. Xác định GCNQSDĐ số AÐ 291483 đính chính bà Q là chủ sử dụng 1.030 m² đất thửa đất số 120 ngày 22/4/2021 và GCNQSDĐ số L929041 đính chính hộ bà Ổ là chủ sử dụng 590m² đất thửa đất số 121 ngày 04/10/2006 đang có hiệu lực pháp luật.

Đối chiếu với khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật có hiệu lực tại thời điểm cấp GCNQSDĐ số AÐ 291483 và GCNQSDĐ số L929041 và đã được đính chính) quy định: “......2. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất”. Khoản 20 Điều 4 Luật đất đai năm 2003 (Luật có hiệu lực xác lập quyền sử dụng đất) quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”.

Đủ căn cứ xác định: Xác định bà Q chủ sử dụng hợp pháp 1.030m² đất tại thửa đất số 120. Hộ bà Ổ là chủ sử dụng hợp pháp 590 m² đất tại thửa đất số 121.

Thửa đất số 120 của bà Q liền kề thửa đất số 121 của hộ bà Ổ. Theo Biên bản thẩm định và Hồ sơ kỹ thuật ngày 04/04/2024:

  • Diện tích tại thửa đất số 120 của bà Q thực tế chỉ còn là 881,5m²; bị thiếu (1.030m²-881,5m²) là 148,5m².
  • Diện tích tại thửa đất số 121 của hộ bà Ổ - ông T đo thực tế là 751m². Như vậy đã sử dụng thừa (751m² - 590 m²) là 161m²;

Diện tích 161m² thừa này ông T không có tài liệu chứng cứ chứng minh thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ gia đình ông. Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm, ông T và các anh chị: M, S, T1 đều cho rằng: Ngày 04/04/2024, gia đình ông T không cho cấp sơ thẩm xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc thửa đất số 121 nên “Trích đo hiện trạng thửa đất” ngày 04/4/2024 không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2024, Tòa cấp sơ thẩm cùng UBND xã M và các chuyên viên của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện S; Phòng Tài chính - kế hoạch huyện S; Phòng quản lý đô thị huyện S tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đã trưng cầu Công ty Cổ phần Đ2 có chức năng chuyên môn, thẩm quyền về đo đạc theo pháp luật tiến hành đo đạc đối với cả hai thửa đất số 120 và 121, Công ty Cổ phần Đ2 đã thực hiện đúng chức năng, chuyên môn đo đạc và có kết quả là bản “Trích đo hiện trạng thửa đất” ngày 04/4/2024. Tại cấp sơ thẩm và sau khi sao chụp hồ sơ tại cấp phúc thẩm không có bất kỳ đương sự nào khiếu nại về bản “Trích đo hiện trạng thửa đất” ngày 04/4/2024. Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định bản “Trích đo hiện trạng thửa đất” ngày 04/4/2024 do Công ty Cổ phần Đ2 tiến hành theo yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Việc hộ gia đình ông T- bà Ổ có mặt tại buổi xem xét thẩm định, đo đạc không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và theo yêu cầu của Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ thì Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ vẫn phải tiến hành theo đúng trình tự thủ tục pháp luật đã quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2024 xác định thửa đất số 121 có vị trí giáp ranh cụ thể: Phía Đông giáp đường ngõ; Phía Tây giáp thửa đất số 120; Phía Nam giáp đường ngõ; Phía Bắc giáp đất nông nghiệp đã được xây tường bao.

Tại cấp sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm ông T và các anh chị: M, S, T1 đều xác định: Gia đình ông T sử dụng thửa đất số 121 không lấn chiếm đất ngõ mặt Phía Đ và ngõ mặt phía Nam; Phía Bắc giáp đất nông nghiệp đã được xây tường bao tách biệt, không lấn chiếm đất nông nghiệp. Mặt khác tại phiên tòa phúc thẩm ông T và các anh chị: M, S, T1 đều xác định việc bà Q thuê thợ xây tường bao phía giáp thửa đất số 121 trên cơ sở móng của tường xây năm 2003. Như vậy tường bao được xây trước thời điểm cấp GCNQSDĐ số AÐ 291483 và GCNQSDĐ số L929041. Do đó tường bao này không phải là căn cứ xác định mốc giới giữa thửa đất số 120 với thửa đất số 121 khi chưa được nhà Nước công nhận quyền sử dụng đất; không phải là căn cứ xác định bà Q từ bỏ quyền sử dụng diện tích ngoài tường bao trong diện tích 1030m² đã được xác định bà Q là chủ sử dụng theo GCNQSDĐ số AÐ 291483. Do đó cấp sơ thẩm đã áp sơ đồ hình thể thửa đất số 120 tại GCNQSDĐ số AÐ 291483, xác định trong số 161m² mà thửa đất số 121 thừa (được lợi không có căn cứ) của hộ bà Ổ - ông T đã lấn chiếm về phía Tây sang thửa đất số 120 với diện tích 127,6m² đất mà thửa 120 bị thiếu 148,5m²; buộc chủ sử dụng thửa đất số 121 là hộ bà Ổ - ông T phải di dời tài sản trên 127,6m² đất trong số 161m² mà hộ bà Ổ đang sử dụng, chiếm giữ, sử dụng thừa trả lại cho bà Q là đúng quy định tại các Điều: 115, 163, 164, 166, khoản 4 Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 (Bộ luật có hiệu lực tại thời điểm phát sinh tranh chấp); khoản 20 Điều 4; khoản 5 Điều 105 Luật đất đai năm 2003.

Việc ông T cho rằng bà Q không có đơn khởi kiện đã được Hội đồng xét xử nhận định tại phần “ [1]. Về tố tụng” nêu trên.

Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông T; giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Từ những nhận định trên. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông T giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[3]. Án phí Dân sự

Ông P, bà Q không phải chịu án phí dân sự được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp. Ông T, bà Ô là người cao tuổi được miễn toàn bộ án phí dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Các Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Các Điều: 115, 163, 164, 166; khoản 4 Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Khoản 20 Điều 4; khoản 5 Điều 105 Luật đất đai năm 2003;
  • Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Luật người cao tuổi.

Xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Bằng T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DSST ngày 06/9/2024 của TAND huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội. Cụ thể:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Q. Buộc hộ gia đình ông Ngô Bằng T - bà Nguyễn Thị Ổ phải trả lại cho bà Đào Thị Q 127,6 m² đất là diện tích thửa đất số 121 của hộ bà Ồ chồng lấn sang thửa số 120 của bà Q cùng thuộc tờ bản đồ số 09 ở thôn L, xã M, huyện S, Thành phố Hà Nội. Diện 127,6 m² đất phải trả lại được giới hạn bởi các điểm 4,3,9,10,11,4 trong sơ đồ kèm theo bản án .
  2. Buộc các thành viên trong hộ gia đình ông Ngô Bằng T - bà Nguyễn Thị Ổ phải có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản, cây cối trên diện tích 127,6 m² đất phải trả lại cho bà Đào Thị Q theo khoản 1 Quyết định của bản án.
  3. Án phí Dân sự
    1. Hoàn trả lại cho bà Đào Thị Q 2.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022501, ký hiệu BLTU/23 ngày 17/04/2024;
    2. Hoàn trả lại cho ông Đào Văn P 2.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022282, ký hiệu BLTU/23 ngày 19/01/2024.
    3. Miễn toàn bộ án phí dân sự cho ông Ngô Bằng T, bà Nguyễn Thị Ổ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hà nội;
  • - TAND huyện Sóc Sơn;
  • - CCTHADS huyện Sóc Sơn;
  • - Lưu HS, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2025/DS – PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 186/2025/DS – PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Đào Thị Q Bị đơn: Ngô Bằng T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger