Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2024/HS-ST

Ngày: 28/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Bình.

Bà Nghiêm Thị Hiền.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Quân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 192/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HS, ngày 15/10/2024 đối với bị cáo:

Hoàng Văn V, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1980 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1979; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Bị hại: Chị Trần Thị T, sinh năm 2004; HKTT: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Văn C, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Đức Đ, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Yên Phong. Có mặt.
  2. Ông Trần Văn Đ1, cán bộ Công an huyện Y. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 6/2024, Hoàng Văn V sinh năm 2003, trú tại thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang đến phòng trọ ở thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh của anh Lý Văn T1, sinh năm 2003, trú tại thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang (anh T1 là bạn của V) để xin ở nhờ vài hôm. Phòng trọ của anh T1 ở tầng 3 của khu trọ và ở cạnh phòng trọ của chị Trần Thị T, sinh năm 2004; HKTT: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Ngày 04/7/2024, V đi trên cầu thang từ tầng 3 lên tầng 4 dãy phòng trọ thì V có nhặt được chiếc chìa khóa (loại khóa Việt tiệp) bằng kim loại màu trắng đã bị han rỉ. V mang về thử mở cửa phòng của chị T thì thấy mở được khóa ngoài, đi vào phòng chị T. V nhìn thấy có một túi xách màu xanh treo ở trên tường bên phải cửa hướng đi vào và tìm được trong túi có 01 chiếc chìa khóa hai cạnh loại chìa khóa của xe mô tô Honda. Vũ nghĩ là chìa khóa xe mô tô của chị T nên V cầm chiếc chìa khóa đút vào túi quần, mục đích để trộm cắp xe mô tô của chị T. Sau đó, V đi ra ngoài và khóa cửa phòng lại như ban đầu.

Khoảng 22 giờ ngày 06/7/2024, V quan sát thấy chị T đang ngủ và để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh tím than, biển kiểm soát (BKS) 37E1 -78513 ở trước khu nhà tắm chung tầng một của khu trọ. Lúc này V lấy quần áo cá nhân đi xuống sân khu trọ, V lấy chìa khóa xe mô tô đã trộm cắp được từ trước cắm vào ổ khóa của xe rồi dắt xe ra ngoài cổng khu nhà trọ. Sau đó, V quay đầu xe về hướng ngã tư chợ Ẩ, xã Y rồi vặn chìa khóa xe thì mở được khóa điện. V nổ máy và điều khiển xe mô tô của chị T đi ra Quốc lộ A và đi theo hướng đi thành phố B. Khi V đi được một đoạn thì dừng lại và mở cốp xe ra để kiểm tra thì phát hiện trong cốp xe 01 áo mưa trùm màu xanh dương có mũ, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 đăng kí xe mô tô mang tên Trần Thị T. V cầm giấy đăng kí xe mô tô cất vào túi quần còn áo mưa và áo sơ mi cùng chiếc chìa khóa dùng để mở cửa phòng chị T thì vứt bên lề đường.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày V đi đến cửa hàng “Chiến Thảo” ở khu L, phường V của chủ quán là anh Đặng Văn C sinh năm 1995, trú tại thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi thỏa thuận mua bán thì anh C đồng ý mua chiếc xe của V với giá 9.700.000 đồng. Anh C trả cho V 3.700.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản làm hai lần (lần 1 là 5.000.000 đồng, lần 2 là 1.000.000 đồng tổng số tiền 6.000.000 đồng) từ tài khoản số 9364981826 tại Ngân hàng V1 của anh C vào tài khoản số 7777140120003 tại Ngân hàng Q của V. Số tiền bán được chiếc xe trộm cắp V đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 01/8/2024, chị Trần Thị T đã làm đơn trình báo tới Công an huyện Y. Cùng ngày, Hoàng Văn V đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Sau khi biết chiếc xe là do trộm cắp mà có, anh Đặng Văn C đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 37E1-785.13 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: “01 Honda Wave màu xanh tím than, BKS 37E1-785.13 số khung RHLJA3921MY422812, số máy JA39E2448035 (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 11.500.000 đồng”.

Về xử lý vật chứng: Ngày 15/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 37E1-785.13 cho chị Trần Thị T.

Đối với chiếc chìa khóa loại khóa Việt Tiệp mà V dùng để mở cửa phòng chị T. Do V đã vứt đi, không rõ địa điểm cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ truy tìm, thu giữ.

Về bồi thường dân sự: Chị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự; Anh Đặng Văn C yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 9.700.000 đồng mà anh đã mua chiếc xe do bị cáo trộm cắp của chị Trần Thị T.

Cáo trạng số: 191/CT-VKSYP ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố Hoàng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Hoàng Văn V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo: Hoàng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: Hoàng Văn V từ 12 đến 14 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo V.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Văn V phải bồi thường cho anh Đặng Văn C số tiền 9.700.000 đồng.

Chị Trần Thị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD hỏi cung bị cáo Hoàng Văn V.

Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Y, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh tím than, BKS 37E1-785.13 số khung RHLJA3921MY422812, số máy JA39E2448035 của chị Trần Thị T trị giá 11.500.000 đồng. Do vậy, có đủ căn cứ xét xử bị cáo Hoàng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương, nên cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cao hơn so với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo V.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là chị Trần Thị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với số tiền 9.700.000 đồng bị cáo bán chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh tím than, BKS 37E1-785.13 số khung RHLJA3921MY422812, số máy JA39E2448035 của chị Trần Thị T cho anh Đặng Văn C, hiện bị cáo chưa trả lại cho anh C, nay anh C yêu cầu bị cáo phải trả lại nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đặng Văn C số tiền 9.700.000 đồng.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD hỏi cung bị cáo Hoàng Văn V.

[5] Liên quan trong vụ án có anh Đặng Văn C là người đã mua chiếc xe mô tô của V. Do bị cáo không nói cho anh C biết nguồn gốc của chiếc xe mô tô là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xem xét xử lý mà chỉ gọi hỏi, nhắc nhở là phù hợp pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo, vì vậy miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Hoàng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 3 Điều 329; Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;

  • - Xử phạt: Hoàng Văn V 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
  • Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (28/10/2024) để đảm bảo thi hành án.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Văn V phải trả lại cho anh Đặng Văn C số 9.700.000 đồng (Chín triệu, bẩy trăm nghìn đồng).
  • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, các bên không thỏa thuận được lãi suất thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD hỏi cung bị cáo Hoàng Văn V.
  • - Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  • Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện Yên Phong;
  • - Công an huyện Yên Phong;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 186/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger