Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN N,

THÀNH PHỐ C

Bản án số: 186/2024/HS-ST

Ngày: 27/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị A

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Lệ H,

2. Bà Nguyễn Thị Mai H.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều T - Thư ký Tòa án nhân dân quận N, thành phố C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C tham gia phiên tòa: ông Bùi Quốc T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố C xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 185/2024/HSST ngày 31/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 876/2024/QĐXXST-HS ngày 06/11/2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: DƯƠNG T; - Giới tính: Nam;

- Tên gọi khác: không có ;

- Sinh ngày 18 tháng 6 năm: 1995; - Nơi sinh: thành phố C;

- Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố C;

- Chỗ ở: Không chỗ ở nhất định;

- Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;

- Trình độ học vấn: 06/12; - Nghề nghiệp: Không;

- Cha ruột: Dương Tấn P, sinh năm 1968;

- Mẹ ruột: Lê Thị P1, sinh năm: 1965;

- Tiền sự, Tiền án: Chưa;

Bị cáo bị khởi tố ngày 13/9/2024, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an quận T, thành phố C trong vụ án khác.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Ông Lương Trọng C, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh K. Chỗ ở hiện nay: B T, phường A, quận N, thành phố C. (có mặt).

- Người liên quan: Ông Phạm Công K, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: B T, phường A, quận N, thành phố C. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 18/01/2024 anh Phạm Công K đi từ nhà địa chỉ B T, phường A, quận N, thành phố C đi đến nhà kho thuê tại địa chỉ B T, phường A thì phát hiện cửa chính nhà kho thuê đã bị trộm cạy phá khóa, bên trong nhiều đồ đạc bị xáo trộn; Kiểm tra toàn bộ kho thì phát hiện bị mất trộm nhiều tài sản của anh Phạm Công K và tài sản của em ở chung là Lương Trọng C, Trần Hồng H. Sau đó anh K đã đến Công an phường A trình báo vụ việc.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ trộm thu giữ được các dấu vết đường vân trên bề mặt hộp giấy bóng có in chữ WAX Pro 200; bề mặt ổ khoá cửa sắt kéo; ổ khoá cửa phòng ngủ; bề mặt tấm Alu màu trắng vách cửa phòng ngủ. Kết quả tra cứu dấu vết vân tay tại hiện trường kết quả ngày 19/02/2024, Cục H1 nghiệp vụ Bộ C1 xác định: “dấu vết ký hiệu số 2,3,4 lần lượt đồng nhất với ngón trỏ, ngón giữa và ngón nhẫn bàn tay phải của đối tượng tên Dương T, sinh năm: 1995, địa chỉ tạm trú: 278/26/1 T, phường H, quận N”.

Ngoài ra tại Kết luận giám định số: 02/KL-KTHS-Đv ngày 31/3/2024 của Phòng K1 kết luận:

1. 03 ảnh dấu vết đường vân thu được tại hiện trường ký tự từ 01 đến 03 so với dấu vân tay ngón “trỏ phải, giữa phải và nhẫn phải” trên danh, chỉ bản số 213/18 họ tên Dương T, sinh năm 1995, nơi ĐKTT: 278/26/1 T, phường H, quận N, thành phố C lập ngày 16/5/2018 tại C2 về việc: Trộm cắp tài sản là của cùng một người in ra.

2. Dấu vết vân trên danh, chỉ bản họ tên Dương T, sinh năm 1995; Nơi thường trú: 278/26/1 T, phường H, quận N, thành phố C; lập ngày 14/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an quận T, so với dấu vân tay trên mẫu so sánh là của cùng một người in ra.

Tiến hành trích xuất camera tại hiện trường ghi nhận có hai đối tượng đột nhập vào trộm tài sản ở hai thời gian khác nhau:

- Đoạn thứ nhất ghi nhận đối tượng 1, vào khoảng thời gian từ 02 giờ 17 phút 35 giây đến 02 giờ 36 phút 00 giây ngày 18/01/2024: Camera ghi nhận lại lúc 02 giờ 17 phút 37 giây ngày 18/01/2024 có một đối tượng mặc áo thun dài tay đen có chữ trắng trước ngực, đội nón bảo hiểm đen, đeo khẩu trang đen, quần jean dài màu đen xám, dép quai hậu đi trên xe mô tô kiểu dáng D, gắn biển kiểm soát 94-F1-297.45 đến trước nhà số B T, phường A, sau đó đối tượng xuống xe và cạy phá 02 ổ khóa cửa kéo sắt phía nhà số B T đến 02 giờ 25 phút thì cạy xong 02 ổ khoá. Đến 02 giờ 26 phút đối tượng dắt xe đi vào trong nhà số B T và kéo cửa sắt kéo lại. Đến 02 giờ 34 phút thì đối tượng mở cửa nhà, chạy xe ra ngoài, cầm theo 01 hộp màu trắng và 01 bọc nilon màu đen, sau đó đối tượng kéo cửa sắt kéo lại và rời đi.

- Đoạn thứ hai ghi nhận đối tượng 2, vào khoảng thời gian từ 03 giờ 30 phút 30 giây đến 03 giờ 34 phút 00 giây ngày 18/01/2024: Camera ghi nhận lại lúc 03 giờ 30 phút 30 giây ngày 18/01/2024 có một đối tượng đeo khẩu trang trắng, mặc áo khoác dài tay màu xám trùm kín đầu, quần dài tối màu, giày trắng, trên lưng đeo ba lô màu đen, đi bộ từ hướng cuối hẻm B T đến trước nhà số B T, phường A. Sau đó đối tượng lấy ổ khóa phía trên của trước nhà số B T ra khỏi khoen khóa cửa rồi đột nhập vào bên trong. Đến 03 giờ 34 phút 00 giây dắt ra một xe mô tô Vario màu vàng và 01 túi nilong trên xe. Sau đó, đối tượng đóng cửa nhà B T và khóa ổ khóa cửa lại và tẩu thoát.

Tiến hành làm việc với Dương T không thừa nhận hành vi đột nhập vào nhà tại địa chỉ B T, phường A ngày 18/01/2024 để lấy trộm tài sản. Mặc dù, Dương T không thừa nhận tuy nhiên từ những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, xác định Dương T đã trực tiếp thực hiện hành vi đột nhập vào nhà tại địa chỉ B T, phường A lấy trộm tài sản, bởi lẽ: Tại thông báo số 10639/V06 (TT) ngày 19/02/2024, Cục H1 nghiệp vụ Bộ C1 xác định: “dấu vết ký hiệu số 2,3,4 lần lượt đồng nhất với ngón trỏ, ngón giữa và ngón nhẫn bàn tay phải của đối tượng tên Dương T, sinh năm: 1995, địa chỉ tạm trú: 278/26/1 T, phường H, quận N”. Đây là các dấu vân tay thu được dấu vết đường vân trên bề mặt hộp giấy bóng có in chữ WAX Pro 200 ở trong phòng ngủ nhà tại địa chỉ B T, phường A, quận N. Kết hợp dữ liệu camera có thể xác định chỉ có đối tượng 1 (ở đoạn camera thứ 1) mới có đủ thời gian từ khi vào trong căn nhà tại địa chỉ B T, phường A để phá ổ khoá phòng ngủ và đi vào phía trong phòng ngủ tìm tài sản để lấy trộm (từ 02 giờ 26 phút đến 02 giờ 34 phút 00 giây ngày 18/01/2024 – 08 phút).

Do đó, có thể xác định Dương T là đối tượng 1 ở các đoạn video trên, tài sản Dương T lấy được gồm: tiền mặt 2.000.000 đồng và: 01 Ipad Pro M1 11 inch 2021-Wifi màu xám trị giá 9.000.000 đồng (của Lương Trọng C), 01 máy phun xăm kỹ thuật số tạo hạt sợi nhân hiệu Sexy Brows Micriblading Digital DCPX-NTA trị giá 1.380.000đồng (của Trần Hồng H) các tài sản này được để trong phòng ngủ phía trong căn nhà tại địa chỉ B T, phường A;

Còn đối tượng 2 (ở đoạn camera thứ 2) chỉ đi vào trong nhà tại địa chỉ B T, phường A với tổng thời gian khoảng 02 phút (từ 03 giờ 30 đến 03 giờ 31 phút 52 giây ngày 18/01/2024) (chưa xác định nhân thân, lai lịch) lấy trộm 01 máy khoan vặn vít dùng pin nhãn hiệu Makita DDF453; 01 máy khoan vặn vít dùng pin nhãn hiệu Makita DTD171RTJ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Vario 150 màu sơn vàng đen Biển số 68G2-055.95 để phía trước phòng khách nhà địa chỉ B T, phường A, quận N.

Làm việc Phạm Công K, Lương Trọng C, Trần Hồng H xác định: không quen biết Dương T, chưa từng gặp người tên Dương T; xác định không có lần nào Dương T đến địa chỉ B T, phường A, quận N, thành phố C.

Như vậy, tổng giá trị tài sản D (là đối tượng 1) trộm được của bị hại Lương Trọng C và Trần Hồng H tổng cộng là 12.380.000 đồng.

Đối với đối tượng nghi vấn số 2 đột nhập vào nhà địa chỉ B T, phường A, quận N, thành phố C lấy trộm tài sản 01 máy khoan vặn vít dùng pin nhãn hiệu Makita DDF453; 01 máy khoan vặn vít dùng pin nhãn hiệu Makita DTD171RTJ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Vario 150 màu sơn vàng đen Biển số 68G2-055.95, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 196/CT – VKSNK ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản đã nêu trong cáo trạng, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho anh Lương Trọng C và chị Trần Hồng H số tiền 12.380.000 đồng.

- Bị cáo Dương T thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát không tranh luận.

Trình bày lời nói sau cùng, Dương T thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn nhận tội, biết lỗi lầm và cam kết không tái phạm, mong Tòa giảm nhẹ hình phạt để sớm về làm công dân tốt, chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ, tang vật trong hồ sơ vụ án. Qua đối chiếu dấu vân tay tại hiện trường vụ án với mẫu vân tay lưu trữ của Cục H1 nghiệp vụ Bộ C1 xác định Dương T chính là đối tượng 1 của trong vụ trộm ngày 18/01/2024.

Hành vi lén lút lấy trộm tiền và tài sản của vợ chồng anh Lương Trọng C, chị Trần Hồng H mà bị cáo Dương T thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân. Bị cáo T đã lợi dụng đêm khuya, tài sản có sơ hở không người trông coi của người bị hại để trộm cắp tài sản, tổng số giá trị trộm cắp của bị cáo theo định giá là 10.380.000 đồng và 2.000.000đồng tiền mặt, hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật vừa nêu là đúng quy định.

[3] Nhận định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy Dương T mặc dù không ghi nhận có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo từng bị nhiều Toà án xét xử về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành án về tội này nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; Về tình tiết giảm nhẹ, trong giai đoạn điều tra Dương T không thừa nhận mình thực hiện hành vi phạm tội, nhưng tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên toà đã bồi thường xong cho người bị hại là vợ chồng anh Lương Trọng C.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Do tài sản không thu hồi được nên anh Lương Trọng C và chị Trần Hồng H thống nhất yêu cầu bị cáo bồi thường 12.380.000 đồng. Bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường cho người bị hại.

[5] Đối với đối tượng nghi vấn số 2 đột nhập vào nhà địa chỉ B T, phường A, quận N, thành phố C lấy trộm tài sản gồm: 01 máy khoan vặn vít dùng pin nhãn hiệu Makita DDF453; 01 máy khoan vặn vít dùng pin nhãn hiệu Makita DTD171RTJ (tài sản của anh Phạm Công K); 01 xe mô tô nhãn hiệu Vario 150 màu sơn vàng đen Biển số 68G2-055.95(của anh Lương Trọng C). Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

[6] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Dương T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Dương T 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù của Dương T được tính từ ngày chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Dương Tiến đã bồi thường xong cho anh Lương Trọng C và chị Trần Hồng H 12.380.000đồng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Dương T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, người bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp thành phố C;
  • - Tòa án nhân dân thành phố C;
  • - Chi cục THADS quận N;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố C;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận N;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận N;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận N;
  • - Nhà Tạm giữ - Công an quận N;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đã ký

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 186/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger