Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 186/2024/HS-ST

Ngày 24-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Kiều Thị Thanh Nguyên và Tống Mỹ Hạnh.

Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Trương Thị Thu T-Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 167/2024/TL ST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lương Minh H (tên gọi khác: C), sinh năm 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: nhà số C, đường L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (đã bán nhà và không còn cư trú tại địa phương từ năm 1994); nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn A và bà Phạm Thị N; chưa có vợ con; tiền án: ngày 22/3/2018, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về “Tội cướp giật tài sản” (phạm tội rất nghiêm trọng, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 20/11/2021 và quyết định khác ngày 08/6/2018, án tích chưa được xóa); tiền sự: không có; nhân thân: ngày 21/01/2011, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 04 tháng tù về “Tội cướp giật tài sản” (khi phạm tội đủ 16 tuổi dưới 18 tuổi, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 25/4/2012 và quyết định khác ngày 27/7/2011, án tích đã được xóa); ngày 11/9/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về “Tội cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 26/11/2015 và quyết định khác ngày 24/7/2014, án tích đã được xóa); bị bắt tạm giam ngày 05-7-2023 “có mặt”;

2. Huỳnh Thái S (tên gọi khác: Nhóc E), sinh năm 2002, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: nhà số A, đường L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (thực tế không có cư trú tại địa phương); nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thái S1 và bà Nguyễn Danh Thảo N1; chưa có vợ con; tiền án: ngày 07/12/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về “Tội cướp giật tài sản” (phạm tội rất nghiêm trọng khi đủ 16 tuổi dưới 18 tuổi, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 17/11/2022 và quyết định khác tháng 9/2022, án tích chưa được xóa); tiền sự: không có; nhân thân: ngày

26/02/2024, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về “Tội cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28-7-2023 (theo Bản án số: 19/2024/HS-ST và hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt tù của bản án này) “có mặt”.

*Các bị hại:

1. Chị Vũ Thùy D, sinh năm 1995. Nơi thường trú và cư trú hiện nay: nhà số H đường B, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh “xin vắng mặt”;

2. Chị Lê Thị Thu H1, sinh năm 1983. Nơi thường trú và cư trú hiện nay: nhà số C, đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

3. Chị Đinh Thị Kim L, sinh năm 1967. Nơi thường trú: nhà số A, Đường Số B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú hiện nay: nhà số D, Đường SỐ A Hồ N, KDC L, Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên vào ngày 29/5/2023, Lương Minh H hẹn gặp Huỳnh Thái S và tên Đặng Minh H2 (tên gọi khác: Bé H2 và chưa tìm được) để bàn bạc rủ nhau đi giật lấy tài sản bán kiếm tiền tiêu xài thì cả 02 đồng ý. Sau đó lúc khoảng 07 giờ ngày 30/5/2023, H điều khiển xe môtô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, biển số 59M2-581.44 đến khu vực bờ kênh xã V theo hẹn thì gặp S đang điều khiển xe môtô hiệu Yamaha, loại Exciter 135, màu đen (của tên H2 và không rõ biển số) chở tên H2 đến. Tại đây, tên H2 đưa cho H 01 tờ giấy decal có in sẵn dòng chữ số 78M2-100.99 để dán đè lên biển số xe 59M2-581.44 của H và tên H2 cũng đã làm tương tự cho biển số xe của mình từ trước để không cho ai biết biển số xe thật; ngoài ra, tên H2 còn chuẩn bị sẵn 01 bình xịt hơi cay màu đen để khi có người truy đuổi thì xịt vào họ nhằm trốn thoát. Sau khi chuẩn bị và bàn bạc xong, H điều khiển xe của H có biển số xe mới là 78M2-100.99, còn S điều khiển xe của tên H2 chở tên H2 cùng chạy qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản giật lấy. Khi đến trước nhà số B, Đường Số A, phường B, quận B thì tên H2 nhìn thấy chị Đinh Thị Kim L đang đứng trên lề đường có đeo 01 cái túi xách màu nâu (bên trong gồm có: tiền mặt 2.000.000 đồng, 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Thị Kim L và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, loại 256GB, màu xanh) nên kêu báo cho H biết thì liền sau đó, H cho xe quay lại và chạy lên áp sát phía sau chị L rồi dùng tay trái giật lấy cái túi xách chị L rồi tăng ga xe bỏ chạy, nhưng do đường trơn và bị chị L nắm giữ cái túi xách giằng co qua lại làm cho H bị té ngã xuống đường. Lúc này, H đứng lên bỏ xe lại chạy bộ thì bị chồng chị L là anh Nguyễn Tấn H3 và người dân xung chạy đến hỗ trợ vây bắt H3; thấy vậy, S liền dùng xe chở tên H2 chạy đến hỗ trợ cho H3 bằng cách, tên H2 ngồi sau dùng bình xịt hơi cay xịt hướng vào nhóm người vây bắt H3 để cho H3 chạy thoát; khi đó, H3 chạy được khoảng 05 mét thì nhảy lên xe cho S chở chạy thoát.

Đến ngày 30/6/2023, Tổ công tác-Phòng C2-Công an Thành phố H trên đường tuần thì phát hiện Lương Minh H có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, làm việc. Qua đó, H đã khai ra sự việc trên nên Tổ công tác giữ H bàn giao cho Cơ quan Công an quận B giải quyết tiếp; còn S, đang bị Cơ quan điều tra-Công an Q bắt tạm giam trong vụ án khác. Trong quá trình điều tra, HS ngoài thừa nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên ra thì còn có thêm 02 lần thực hiện hành vi giật lấy tài sản trên địa bàn quận T, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: sau khi thống nhất cách thức giật lấy tài sản như trên thì vào khoảng 18 giờ 30 ngày 21/02/2023, S điều khiển xe của tên H2 (biển số xe in trên tờ giấy decal dán lên biển số thật và không nhớ chữ số) chở H2 ngồi sau, còn H điều khiển xe Exciter 135, biển số 59M2- 581.44 chạy theo qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản giật lấy. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, cả 03 đang lưu thông xe trên đường V hướng về chợ T1 thì tất cả đều nhìn thấy chị Vũ Thùy D đang điều khiển xe hiệu Honda, V lưu thông theo chiều ngược lại và trên tay trái có cầm chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128 Gb, màu trắng nói chuyện bên trái nên cả nhóm liền quay lại chạy theo. Khi chị D chạy đến trước số A, đường V, phường P, quận T thì S điều khiển xe từ sau lên áp sát bên trái chị D, còn tên H2 ngồi sau dùng tay phải giật lấy được chiếc điện thoại của chị D rồi tăng ga xe chạy tẩu thoát hướng qua đường V. Khi đó, chị D truy hô “cướp...cướp” và đuổi theo đến giao lộ giữa Văn C1Vườn L1 thì H2 cầm bình xịt hơi cay xịt hướng vào người chị D nên cả nhóm được chạy thoát về nhà trọ của tên H2 rồi H tháo biển số giả ra vứt bỏ nhằm tránh bị phát hiện. Sau đó, tên H2 đem bán chiếc điện thoại này được 10.500.000 đồng (không biết bán cho ai và ở đâu) rồi chia cho HS mỗi người 3.500.000 đồng tại nhà trọ của H2; riêng chị D đã trình báo cho Công an phường P, quận T.

Vụ thứ hai: vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 17/3/2023, tên H2 gọi điện thoại rủ H đến cây xăng ngã tư đường D-T, thuộc phường T, quận T để cùng với S đi giật lấy tài sản theo cách thức cũ thì H đồng ý rồi điều khiển xe môtô hiệu Yamaha, loại Exciter (xe này H đã bán lại cho người khác và không nhớ biển số thật) đến điểm hẹn gặp nhau. Tại đây, S điều khiển khiển xe hiệu Yamaha, loại Exciter (không rõ biển số) chở H2, còn H điều khiển xe chạy theo qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản giật lấy. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, cả 03 lưu thông đường T hướng về đường L thì S và tên H2 nhìn thấy chị Lê Thị Thu H1 đang điều khiển xe môtô lưu thông phía trước cùng chiều có đeo túi xách bằng da bò, màu đen bên phải nên cả 03 chạy bám theo chị H1 đến trước nhà số B, đường T, phường T, quận T thì S cho chạy vượt lên ép sát bên phải chị H1, còn tên H2 ngồi sau dùng tay trái giật lấy được chiếc túi xách của chị H1 làm chị H1 mất thăng bằng té ngã xuống đường. Sau khi cả 03 tẩu thoát đến đường K, thuộc phường S, quận T, S dừng xe lại cho tên H2 kiểm tra bên trong túi xách gồm có: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold 512Gb và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu xám nên lấy ra 02 chiếc điện thoại này ra cất vào túi quần, còn túi xách vứt bỏ xuống Kênh A. Sau đó, S điều khiển xe chở H2 về nhà trọ của tên H2, S và tên H2 báo cho H biết là trong túi xách chỉ có 02 chiếc điện thoại này rồi tên H2 đi bán (không biết bán cho ai và ở đâu) về chia cho SH mỗi người 1.500.000 đồng; riêng chị H1 được người dân đưa đi cấp cứu và trình báo cho Công an phường T, quận T.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lương Minh HHuỳnh Thái S cùng khai nhận: Do cần có tiền tiêu xài nên các bị cáo cùng với tên Đặng Minh H2 (tên gọi khác: Bé H2 và không rõ lai lịch) để bàn bạc, thống nhất cách thức đi giật lấy tài sản của người khác bằng cách dùng giấy decal có in biển số xe dán lên che khuất biển số thật để không bị phát hiện, mang theo bình xịt hơi cay dùng xịt vào người nào truy đuổi nhằm để được chạy thoát và tên H2 là người chuẩn bị, còn xe là của các bị cáo. Sau đó, các bị cáo và tên H2 đã 03 lần sử dụng xe môtô làm phương tiện thực hiện

hành vi này theo trình tự thời gian cụ thể là lần thứ nhất: khi các bị cáo và tên H2 chạy xe qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản giật lấy thì, nhìn thấy chị Vũ Thùy D đang điều khiển xe lưu thông theo chiều ngược lại và trên tay trái có cầm chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128 Gb, màu trắng nói chuyện nên liền quay xe lại chạy bám theo được một lúc, bị cáo S điều khiển xe chạy lên áp sát bên trái chị D, còn tên H2 ngồi sau dùng tay phải giật lấy được chiếc điện thoại của chị D rồi tăng ga xe chạy tẩu thoát. Đến khi chị D đuổi theo phía sau thì bị tên H2 dùng bình xịt hơi cay xịt hướng vào người chị D nên cả nhóm được chạy thoát bán chiếc điện thoại này chia tiền đều cho nhau mỗi người 3.500.000 đồng. Lần thứ hai: khi bị cáo S và tên H2 nhìn thấy chị Lê Thị Thu H1 đang điều khiển xe môtô lưu thông phía trước cùng chiều có đeo túi xách bằng da bò, màu đen bên phải nên cả 03 chạy bám theo chị H1 được một lúc thì S cho chạy vượt lên ép sát bên phải chị H1, còn tên H2 ngồi sau dùng tay trái giật lấy được túi xách của chị H1 làm chị H1 mất thăng bằng té ngã xuống đường. Còn các bị cáo và tên H2 tẩu thoát đến đường K thì, bị cáo S dừng xe lại để cho tên H2 kiểm tra bên trong túi xách chỉ có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold 512Gb và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu xám rồi lấy ra 02 chiếc điện thoại này ra cất vào túi quần, còn túi xách vứt bỏ xuống Kênh A; riêng việc trong túi xách còn có thêm số tiền mặt 7.000.000 đồng như lời khai của chị H1 là hoàn toàn không có. Sau khi kiểm tra bên trong túi xong, cả 02 về lại phòng trọ của tên H2 nói cho bị cáo H biết về số tài sản đã giật được của chị H1 rồi tên H2 đi bán (không biết bán cho ai và ở đâu) về chia cho SH mỗi người 1.500.000 đồng. Lần thứ 3: khi tên H2 nhìn thấy chị Đinh Thị Kim L đang đứng trên lề đường có đeo cái túi xách màu nâu (sau này kiểm tra mới biết bên trong gồm túi xách có: tiền mặt 2.000.000 đồng, 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Thị Kim L và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, loại 256GB, màu xanh) nên kêu báo cho bị cáo H biết thì bị cáo H cho xe quay lại và chạy lên áp sát phía sau chị L rồi dùng tay trái giật lấy cái túi xách chị L rồi tăng ga xe bỏ chạy, nhưng do bị chị L nắm giữ cái túi xách giằng co qua lại làm cho bị cáo H bị té ngã xuống đường; lúc này, bị cáo H đứng lên bỏ xe lại chạy bộ thì bị người dân xung chạy đến hỗ trợ vây bắt H; thấy vậy, bị cáo S liền dùng xe chở tên H2 chạy đến hỗ trợ cho bị cáo H bằng cách, tên H2 ngồi sau dùng bình xịt hơi cay xịt hướng vào nhóm người vây bắt H để cho bị cáo H chạy thoát; khi đó, bị cáo H chạy được khoảng 05 mét thì lên xe cho bị cáo S chở chạy thoát, nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản trên do chị L kịp nắm giữ lại. Tuy 02 bị cáo và tên H2 đều được chạy thoát trong cả 03 vụ giật tài sản này, nhưng bị cáo H bị Công an phát hiện bắt giữ, còn bị cáo S bị Công an Q bắt giữ trong vụ giật tài sản khác, riêng tên H2 thì không biết đang ở đâu nên nay các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản của các chị D, H1L; về trách nhiệm dân sự, các bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho 02 chị DH1 về giá trị tài sản đã chiếm đoạt được, không đồng ý bồi thường 7.000.000 đồng tiền mặt mà chị H1 đã đưa ra vì lúc đó trong túi xách của chị không có số tiền này; riêng về tài sản của các bị cáo còn bị tạm giữ thì không có ý kiến.

Tại Cáo trạng số: 166/CT-VKS, ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lương Minh HHuỳnh Thái S ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí

Minh để xét xử về “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm a, d, đ, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: các bị cáo Lương Minh HHuỳnh Thái S đã 03 lần có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác một cách công khai rồi tẩu thoát, cụ thể: lần thứ nhất, là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128 Gb, màu trắng của chị Vũ Thùy D trị giá là 20.000.000 đồng; lần thứ hai: là cái túi xách bằng da bò, màu đen bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold 512Gb và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu xám của chị Lê Thị Thu H1 trị giá 6.700.000 đồng (cái túi xách, không xác định được giá trị do không rõ xuất xứ, mã sản phẩm; riêng 7.000.000 đồng, các bị cáo không thừa nhận, còn bị hại thì không chứng minh được); lần thứ ba: là cái túi xách màu nâu bên trong có 2.000.000 đồng, 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Thị Kim L và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, loại 256GB, màu xanh của chị Đinh Thị Kim L, tổng trị giá 14.150.000 đồng. Đây là vụ án có đồng phạm, sự cấu kết thực hiện tội phạm chặt chẽ nên được coi là “Có tổ chức”; đồng thời, các bị cáo đã sử dụng xe môtô làm phương tiện thực hiện hành vi này nên được coi là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”; đã dùng bình xịt hơi cay chống trả lại người truy đuổi là “Hành hung để tẩu thoát” và lần phạm tội này của cả 02 bị cáo đều thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi trên nên còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”. Do đó, cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng; tuy nhiên, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm a, d, đ, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17 và 58; Điều 38 (bị cáo S thêm khoản 1 Điều 56) Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo H với mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù; còn bị cáo S từ 07 năm đến 08 năm tù cùng về “Tội cướp giật tài sản” và tổng hợp hình phạt 06 năm tù theo Bản án số: 19/2024/HS-ST, ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Về trách nhiệm dân sự, do bị hại là chị L đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không ý kiến; riêng đối với các chị DH1 thì đề nghị, buộc các bị cáo mỗi người phải bồi thường thiệt hại cho chị D 10.000.000 đồng, chị H1 3.350.000 đồng. Còn về phần vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe môtô biển số 59M2-58144 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax.

Các bị cáo không ai tranh luận và bào chữa bổ sung gì thêm về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá

trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và cả 03 bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cùng với lời khai của các bị cáo Lương Minh HHuỳnh Thái S tại phiên tòa hôm nay cho thấy: các bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi nhanh chóng chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác một cách công khai rồi tẩu thoát, cụ thể như sau: lần thứ nhất, vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/02/2023 tại trước số A, đường V, phường P, quận T là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128 Gb, màu trắng của chị Vũ Thùy D. Lần thứ hai, vào khoảng 09 giờ ngày 17/3/2023 tại trước nhà số B, đường T, phường T, quận T là là cái túi xách bằng da bò, màu đen bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold 512Gb và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu xám của chị Lê Thị Thu H1; riêng việc chị H1 cho rằng, trong túi xách của chị còn có 7.000.000 đồng tiền mặt thì các bị cáo không thừa nhận, trong khi chị H1 không có chứng cứ vật chất nào khác để chứng minh ngoài lời khai của chị nên chưa đủ cơ sở xác định các bị cáo có chiếm đoạt số tiền này. Lần thứ ba: vào khoảng 07 giờ 20 phút ngày 30/5/2023 tại trước nhà số B, Đường Số A, phường B, quận B là cái túi xách màu nâu bên trong có 2.000.000 đồng, 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Thị Kim L và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13, loại 256GB, màu xanh của chị Đinh Thị Kim L. Theo các kết luận định giá tài sản số: 326/KL-HĐĐGTS, ngày 03/3/2023, số: 598/KL-HĐĐGTS, ngày 13/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận T và số: 238/KL-HĐĐGTS, ngày 17/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B thì, chiếc điện thoại di động của chị D trị giá 20.000.000 đồng; 02 chiếc điện thoại di động của chị H1 trị giá 6.700.000 đồng (riêng cái túi xách, không xác định được giá trị do không rõ xuất xứ, mã sản phẩm); 01 chiếc điện thoại di động và 01 túi xách của chị L trị giá 12.150.000 đồng (tổng trị giá tài sản trong 03 lần chiếm đoạt của các bị cáo là 40.850.000 đồng).

[3] Như vậy, xét trên đây là vụ án có đồng phạm, các bị cáo có sự bàn bạc thống nhất ý chí trong việc chuẩn bị công cụ, phương tiện và cách thức thực hiện hành vi một cách rõ ràng, cụ thể là cấu kết thực hiện tội phạm chặt chẽ nên được coi là “Có tổ chức”; đồng thời, các bị cáo đã sử dụng xe môtô làm phương tiện thực hiện hành vi này nên được coi là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và đã dùng bình xịt hơi cay xịt vào những người truy đuổi để chống trả lại nhằm được trốn thoát là “Hành hung để tẩu thoát”; ngoài ra, các bị cáo còn đã từng bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới cũng rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, các bị cáo Lương Minh HHuỳnh Thái S đã phạm “Tội cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, d, đ, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, những người biết việc; các biên bản-bản ảnh khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, nhận dạng; 01

phần vật chứng thu giữ được, định giá tài sản...nên đã đủ chứng cứ buộc tội các bị cáo và mức án đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Còn việc các bị cáo sử dụng bình xịt hơi cay xịt hướng vào những người truy đuổi, nhưng do không ai bị thương tích gì nên không xét. Riêng hành vi tàng trữ, sử dụng bình xịt hơi cay của các bị cáo thì, do không thu giữ được bình xịt hơi cay này để giám định nên không có căn cứ xử lý các bị cáo về hành vi “Tàng trữ, sử dụng công cụ hỗ trợ” là phù hợp. Riêng đối với tên Đặng Minh H2 (tên gọi khác: Bé H2), do Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên đã ra thông báo truy tìm xử lý sau.

[5] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, khá táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật, đã lợi dụng sự sơ hở của người khác chiếm đoạt trái phép tài sản một cách công khai ngay trên đường phố là không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Trong đó, bị cáo H là người rủ rê và trực tiếp chiếm đoạt tài sản; còn bị cáo S giúp sức tích cực và cả 02 bị cáo đều có nhân xấu khác; đồng thời, các bị cáo đã liên tục 03 lần thực hiện hành vi này nên còn phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của từng bị cáo theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mới để đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[6] Xét tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST, ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo Huỳnh Thái S 06 (sáu) năm tù về “Tội cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28-7-2023 và hiện nay bị cáo đang chấp hành án phạt tù của bản án này nên cần phải tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”; do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp và điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Xét tại phiên tòa hôm nay, tuy các bị hại là chị Vũ Thùy D, Lê Thị Thu H1Đinh Thị Kim L đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt nhưng theo các tài liệu có trong hồ sơ thì, riêng chị L đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không xét. Còn chị D, yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại cho chị số tiền 20.000.000 đồng và chị H1 yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại cho chị số tiền 6.700.000 đồng được các bị cáo đồng ý là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[9] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128 Gb, màu trắng của chị Vũ Thùy D; 01 cái túi xách bằng da bò, màu đen bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold 512Gb và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu xám của chị Lê Thị Thu H1, do không thu hồi được cùng 01 cái túi xách màu nâu bên trong có 2.000.000 đồng, 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Thị Kim L và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13, loại 256GB, màu xanh của chị Đinh Thị Kim L; 01 xe môtô biển số 59G2-618.11 mà bị cáo H sử dụng là do mượn của chị Lương Thị H4, Cơ quan điều tra đã thu hồi giao trả lại cho các chị LH4 nên không xét cho cả 04 trường hợp này. Riêng 01 xe môtô Yamaha Exciter, biển số 59M2-58144, số máy: 1S9A-023181, SK: RLCE1S9A0CY023168 mà bị cáo H dùng làm phương tiện phạm tội đã khai, xe do mua của người không rõ lai lịch còn qua kết quả xác minh, xe do anh Trần Thanh S2 đứng tên giấy đăng ký xe, hiện anh S2 không còn cư trú tại địa phương và đi đâu không rõ, Cơ quan điều tra cũng đã thực hiện đăng báo tìm chủ sở hữu của chiếc xe này, nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến để giải quyết thì được coi là tài sản không xác định chủ sở hữu; còn 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số máy: MGCH3LL/A, số seri: GONFN90110D41, gắn sim số 0971855147 của bị cáo H dùng liên lạc rủ nhau đi thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước.

[9] Các bị cáo Lương Minh HHuỳnh Thái S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:

1.1.Căn cứ vào điểm a, d, đ, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lương Minh H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 05-7-2023.

1.2. Căn cứ vào điểm a, d, đ, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 58 và 38; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thái S 08 (tám) năm tù về “Tội cướp giật tài sản”.

- Tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù của bản án này với hình phạt 06 (sáu) năm tù, theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST, ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo Huỳnh Thái S phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28-7-2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều 585, 586, 589, 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc các bị cáo Lương Minh HHuỳnh Thái S mỗi người bồi thường thiệt hại cho: chị Vũ Thùy D số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng và chị Lê Thị Thu H1 số tiền 3.350.000 (ba triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày chị Vũ Thùy D, chị Lê Thị Thu H1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bị cáo Lương Minh H, Huỳnh Thái S chưa thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng các bị cáo H, S còn phải chịu thêm cho chị D, chị H1 tiền lãi theo mức lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền được quy định tại các điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu sung Nhà nước gồm: 01 xe môtô Yamaha Exciter, biển số 59M2-58144, số máy: 1S9A-023181, SK: RLCE1S9A0CY023168 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số máy: MGCH3LL/A, số seri: GONFN90110D41, gắn sim số 0971855147.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK24/196TV, ngày 28/5/2024)

5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo Lương Minh HHuỳnh Thái S mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 667.500 (sáu trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Các bị cáo Lương Minh HHuỳnh Thái S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại chị Vũ Thùy D, Lê Thị Thu H1Đinh Thị Kim L vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

(Đã giải thích quy định về quyền yêu cầu thi hành dân sự cho các bị cáo)

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND Q.BT;
  • - CQĐT-CA Q.BT;
  • - Nhà tạm giữ-CA Q.BT;- Chi cục THA DS Q.BT;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (thay cho thông báo);
  • - Bị cáo, bị hại (nếu có);
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu hs, Vp (Thi hành án Hình sự).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Ái

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội cướp giật tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 186/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cướp giật tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Minh H và đồng phạm “Tội cướp giật tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger