Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2024/HS-PT

Ngày: 30-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Phong

Ông Trương Ngọc Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Danh Sót - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 và 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 115/2024/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo kháng cáo: Lê Văn Q, sinh ngày 10/3/1976 tại huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D, sinh năm 1943 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1946; có vợ là Lý Thị Bích T, sinh năm 1983 và 01 người con, sinh năm 2008; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 đến ngày 12/5/2023 được tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Q làm nghề buôn bán thuốc lá tại địa chỉ số E đường N, khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Lúc 16 giờ, ngày 02 tháng 04 năm 2023, Q đang bán hàng ở tiệm thuốc lá của mình thì có một người tên B (chưa rõ nhân thân) đến hỏi Q có mua thuốc lá nhãn hiệu Hero không, bán cho Q với giá 17.000 đồng/1 bao, Q đồng ý mua 1.000 bao với số tiền là 17.000.000đ. Q chỉ nhà thuộc tổ B, khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho B và hẹn 13 giờ ngày 03/04/2023 sẽ nhận thuốc lá tại nhà Q. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/4/2023, B điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) chở theo 02 (hai) thùng cát tông bên trong chứa 1.000 (một ngàn) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero đến nhà giao cho Q rồi điều khiển xe đi. Sau đó lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an thành phố P đến kiểm tra phát hiện thuốc lá điếu nhập lậu nên lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra, Q còn tự nguyện giao nộp thêm 4.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại gồm: 100 bao thuốc lá điếu hiệu SCOTT, 200 bao thuốc lá hiệu CANYOU, 100 bao thuốc lá điếu hiệu NELSON, 150 bao thuốc lá điếu hiệu MOND, 100 bao thuốc lá điếu hiệu CARAVEN “A”, 2.110 bao thuốc lá điếu hiệu ESSE, 790 bao thuốc lá điếu hiệu 555, 260 bao thuốc lá điếu hiệu JET, 240 bao thuốc lá điếu hiệu RASION, 310 bao thuốc lá điếu hiệu ZEST do Q mua vào năm 2022 của nhiều người (không biết nhân thân), nhiều lần với nhiều loại thuốc lá điếu nhập lậu khác nhau, nên Q không nhớ thời gian, số lượng và giá tiền. Sau khi mua, Q mang về cất giấu tại nhà với mục đích bán lại cho khách để kiếm lời. Đến ngày 06/4/2023, Lê Văn Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, tạm giam, đến ngày 12/5/2023 cho gia đình bảo lĩnh và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

Tang vật thu giữ:

  • - 1.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero (bắt quả tang);
  • - 4.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại gồm: 100 bao thuốc lá điếu hiệu SCOTT, 200 bao thuốc lá hiệu CANYOU, 100 bao thuốc lá điếu hiệu NELSON, 150 bao thuốc lá điếu hiệu MOND, 100 bao thuốc lá điếu hiệu CARAVEN “A”, 2.110 bao thuốc lá điếu hiệu ESSE, 790 bao thuốc lá điếu hiệu 555, 260 bao thuốc lá điếu hiệu JET, 240 bao thuốc lá điếu hiệu RASION, 310 bao thuốc lá điếu hiệu ZEST (giao nộp);
  • - 01 (một) điện thoại di động màu tím, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14 Promax, số IMEI: 3554132412940887, đã qua sử dụng (đã trả lại chủ sở hữu).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 115/2024/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  • -Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
  • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm r, s, u khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Q 05 (năm) năm tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 24/7/2024 bị cáo Lê Văn Q có đơn kháng cáo nội dung xin được xử hình phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quyết định của bản án sơ thẩm:

Ngày 03/4/2023, Lê Văn Q mua của một người tên B (không rõ nhân thân) 1.000 (một ngàn) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero, với mục đích bán lại cho khách để thu lợi, bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an thành phố P phát hiện bắt giữ. Ngoài ra, Q còn tự nguyện giao nộp thêm 4.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 100 bao hiệu SCOTT, 200 bao hiệu CANYOU, 100 bao hiệu NELSON, 150 bao hiệu MOND, 100 bao hiệu CARAVEN “A”, 2.110 bao hiệu ESSE, 790 bao hiệu 555, 260 bao hiệu JET, 240 bao hiệu RASION, 310 bao hiệu ZEST mà Q mua vào năm 2022 của nhiều người. Tổng cộng Q mua 5.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhiều nhãn hiệu. Sau khi mua cất giấu tại nhà với mục đích bán lại cho khách để kiếm lời. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử và kết án bị cáo Lê Văn Q về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo:

Bị cáo Lê Văn Q buôn bán 5.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu, phạm vào điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 08 đến 15 năm. Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế, gây ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước và xã hội.

Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s, u khoản 1 Điều 51 và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 05 năm tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng (khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự), đồng thời đã là mức hình phạt tù thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn (khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự) là đã xem xét chiếu cố cho bị cáo.

Việc bị cáo kháng cáo yêu cầu chuyển sang hình phạt tiền không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, theo quy định pháp luật trong trường hợp này không thể xử bị cáo hình phạt tiền là hình phạt chính, cụ thể Điều 54 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”.

...

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Trong vụ án này, hành vi bị cáo phạm vào khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 08 năm đến 15 năm tù (tức khung hình phạt được áp dụng là khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự, chỉ có một loại hình phạt là tù có thời hạn từ 08 năm đến 15 năm). Trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng (khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự) thì cũng chỉ có thể xử hình phạt tù dưới 08 năm, chứ không thể chuyển sang phạt tiền là hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn hình phạt tù. Vì bị cáo không phải bị xử ở khung hình phạt nhẹ nhất của Điều 190 Bộ luật hình sự, nên không thể áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự để chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn hình phạt tù.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí phúc thẩm: căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; các điều 11, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn Q, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

  2. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm r, s, u khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Lê Văn Q 05 (Năm) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 đến ngày 12/5/2023.

  3. Về án phí phúc thẩm, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Lê Văn Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại Tp. HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - CQĐT Tp Phú Quốc (1);
  • - VKS Tp Phú Quốc (1);
  • - Tòa án Tp Phú Quốc (1);
  • - Chi cục THADS Tp Phú Quốc (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Lịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 186/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về hình sự về tội buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 186/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Q buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu bị bắt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger