|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 186/2024/DSPT Ngày: 14/5/2024 V/v:”Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hồng Dung
- Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình
Bà Lê Thị Minh Trang
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 617/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28 /2024/QĐXXPT- DS ngày 06 tháng 3 năm 2024.
Do bản án số 109/2023/DSST ngày 27/10/2023 của TAND quận Ô Môn xử sơ thẩm có kháng cáo, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Phan Thị Diễm T, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: khu V, phường T, quận Ô, thành phố. Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: khu vực I, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Ông Lâm Hồng D, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu vực 03, phường 01, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở: 258B/7, khu vực 02, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hoàng Ú, sinh năm 1988 (vắng mặt). Địa chỉ: Số E đường số G, KDC Cái Sơn H, khu vực 02, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Ông Phan Văn T1, sinh năm 1952 (vắng mặt).
- Bà Lê Hồng Đ, sinh năm 1954 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Ngân hàng TMCP Đ2 – Chi nhánh C1 – Phòng G.
- Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thủy A (có đơn xin vắng)
- Văn phòng công chứng 24h (có đơn xin vắng mặt).
Đại diện ủy quyền của ông T1 và bà Đ có bà Phan Thị Diễm T, sinh năm 1988 (văn bản ủy quyền ngày 22/8/2022).
Cùng địa chỉ: khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Lầu F, số A T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện ủy quyền của Ngân hàng: Ông Huỳnh Cảnh K, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Lầu F, số A T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: số A Quốc lộ I, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: số C N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP Đ2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Phan Thị Diễm T trình bày:
Vào năm 2015 gia đình bà có nhu cầu vay vốn qua giới thiệu của bạn bè thì biết được Công ty TNHH T4 do ông Nguyễn Hoàng Ú đứng tên đại diện theo pháp luật. Địa chỉ: số F khu vực Bình Phó A, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Lúc đến công ty thì bà có gặp Nguyễn Hoàng Ú và Lâm Hồng D nói là đại diện của công ty đứng ra thương lượng để cho gia đình bà vay.
Sau đó ông Nguyễn Hoàng Ú tự soạn hợp đồng và đưa cho ông Phan Văn T1 (cha của bà) và bà Lê Hồng Đ (mẹ của bà) vay với số tiền 500.000.000 đồng, phía bên vay thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Phan Thị Diễm T đứng tên. Đến ngày giao tiền thì ông Ú và ông D buộc gia đình bà phải ra Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thủy A quận Ô ký tên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa 424, tờ bản đồ số 88, diện tích 669m² cho ông Lâm Hồng D với giá là 350.000.000 đồng.
Sau đó bà phát hiện ông Ú và ông D đem giấy chứng nhận QSD đất của bà thế chấp cho Ngân hàng. Bà đã nhiều lần đến liên hệ nhưng không gặp được ông Ú và ông D. Bà đã nhiều lần đóng lãi cho Ngân hàng theo như yêu cầu của ông D thì số tiền bà đóng là 116.000.000 đồng.
Nay, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ô Môn giải quyết: Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số công chứng 2897 quyển số 03/2015/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/8/2015 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thủy A.
Hủy hợp đồng thế chấp số 1022/2015/HĐBĐ/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 giữa ông Lâm Hồng D với Ngân hàng TMCP Đ2.
Bà đồng ý trả lại cho ông Lâm Hồng Danh s tiền 234.000.000 đồng.
Bị đơn ông Lâm Hồng D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Đại diện ủy quyền của Ngân hàng ông Võ Duy Thế P có đơn yêu cầu độc lập trình bày:
Ông Lâm Hồng D cùng Ngân hàng TMCP Đ2 – Chi nhánh C1 – Phòng G đã cùng ký kết hợp đồng cho vay số 1022/2015/HĐTD/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 cùng khế ước nhận nợ như sau: số tiền thực tế giải ngân 862.000.000 đồng, thời hạn vay 180 tháng, mục đích sử dụng vốn xây nhà.
Để bảo đảm khoản vay ông D đã ký hợp đồng thế chấp số 1022/2015HĐBĐ/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 thế chấp 01 bất động sản là Giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CB315431, số vào sổ CH 04032 do UBND quận Ô cấp ngày 10/11/2015. Thửa đất số 424, tờ bản đồ số 88. Địa chỉ khu vực I, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ, diện tích 669m², hình thức sử dụng: Riêng 669m², mục đích sử dụng: đất ở 128m², đất cây lâu năm 541m². Nhà ở: diện tích xây dựng 82,07m², diện tích sàn 167,83m². Kết cấu: nền gạch men, khung sàn bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái tol, tường gạch. Cấp hạng: cấp 3, số tầng: 02.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông Lâm Hồng D không thực hiện việc trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, công văn và làm việc trực tiếp yêu cầu ông Lâm Hồng D trả nợ và bàn giao tài sản đảm bảo cho Ngân hàng xử lý theo quy định của pháp luật nhưng ông không thực hiện theo yêu cầu.
Nay, Ngân hàng yêu cầu buộc ông Lâm Hồng D còn nợ Ngân hàng nợ gốc 833.266.000 đồng; nợ lãi tính đến ngày 15/8/2022 là 877.743.112 đồng (trong đó lãi quá hạn 459.752.895 đồng, lãi phạt 415.794.552 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 16/8/2022 đến khi trả dứt nợ theo hợp đồng các bên đã ký.
Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp số 1022/2015/HĐBĐ/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 giữa ông Lâm Hồng D với Ngân hàng TMCP Đ2.
Trường hợp ông Lâm Hồng D không thực hiện việc trả nợ theo cam kết thì yêu cầu Chi cục thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản ông D đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 1022/2015/HĐTD/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 gồm: Thửa đất số 424, tờ bản đồ số 88. Địa chỉ khu vực I, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ, diện tích 669m², hình thức sử dụng: Riêng 669m², mục đích sử dụng: đất ở 128m², đất cây lâu năm 541m².
Nhà ở: diện tích xây dựng 82,07m², diện tích sàn 167,83m².
Kết cấu: nền gạch men, khùng sàn bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái tol, tường gạch. Cấp hạng: cấp 3, số tầng: 02.
* Ông Nguyễn Văn Đ1 có đơn yêu cầu độc lập trình bày: Vào khoảng năm 2008 ông có mua của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị S phần đất có diện tích 68m², đất tọa lạc tại thửa số 424, tờ bản đồ số 88, đất tọa lạc tại khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ CH04032 do UBND quận Ô cấp ngày 10/11/2015. Do diện tích ít nên ông không đăng ký làm giấy chứng nhận được mà phải nhập qua diện tích đất của người hàng xóm tên Trần Quốc T2, đến nay vẫn chưa được tách.
Sau đó ông T2 chuyển nhượng QSD đất cho ông Phan Văn T1 và bà Lê Hồng Đ trong diện tích chuyển nhượng đó có diện tích đất của ông. Ông Phan Văn T1 và bà Lê Hồng Đ đã chuyển nhượng QSD đất cho ông Lâm Hồng D để vay tiền ở Ngân hàng TMCP Đ2, do ông D nợ Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản của ông D trong đó có phần diện tích đất của ông là 67,8m². Do đó, ông không đồng ý phát mãi tài sản của ông, vì ông không có liên quan gì đối với ông D và bà T.
Nay, ông yêu cầu Tòa án tách phần đất diện tích 67,8m², thửa 424, tờ bản đồ số 88, đất tọa lạc tại khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH04032 do UBND quận Ô cấp ngày 10/11/2015. Qua đo đạc diện tích đất thực tế ông yêu cầu tách phần diện tích đất tại vị trí A theo bản trích đo địa chính là 60,5m².
* Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thủy A trình bày: tại thời điểm công chứng, người yêu cầu công chứng là bà Phan Thị Diễm T và ông Lâm Hồng D đề có năng lực hành vi dân sự, sau khi đã đọc, đã nghe công chứng viên đọc lại hợp đồng và hoàn toàn tự nguyện lập, ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số 2897 ngày 25/8/2015 được thực hiện theo quy định của pháp luật.
* Văn phòng công chứng 24h trình bày: Hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số 1022/2015/HĐBĐ/PVB-GDAP được giao kết giữa bên thế chấp là ông Lâm Hồng D với bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP Đ2 – Chi nhánh C1 – Phòng G do Văn phòng công chứng 24h chứng nhận số: 813, quyền số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/11/2015 được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Việc bà Phan Thị Diễm T yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên là không có căn cứ.
Tại phiên tòa sơ thẩm;
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đối với số tiền nguyên đơn đã nhận từ ông Lâm Hồng D là 300.000.000 đồng (theo hợp đồng chuyển nhượng với ông Nguyễn Hoàng Ú giá chuyển nhượng 350.000.000 đồng), nguyên đơn tự nguyện trả cho Ngân hàng thay cho ông Lâm Hồng Danh số tiền gốc mà ông D còn nợ Ngân hàng TMCP Đ2 là 833.266.000 đồng và xin được nhận giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và công trình trên đất để được sang tên lại cho nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn Đ1 giữ nguyên yêu cầu độc lập. Ông yêu cầu được tách phần diện tích đất 60,5m² mà trước đây ông đã nhận chuyển nhượng từ ông C.
Ngân hàng TMCP Đ2 yêu cầu buộc ông D trả cho Ngân hàng là 1.645.603.185 đồng, tạm tính đến ngày 27/10/2023 và yêu cầu ông D tiếp tục trả lãi từ ngày 28/10/2023 đến khi trả dứt nợ. Trường hợp ông D không trả hoặc trả không đủ đề nghị phát mãi tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.
Tại bản án sơ thẩm số 109/2023/DSST ngày 27/10/2023 của TAND quận Ô Môn tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Diễm T.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ2.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ1.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số công chứng 2897 quyển số 03/2015/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/8/2015 giữa bà Phan Thị Diễm T với ông Lâm Hồng D được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C2 Nguyễn Thị Thủy A) và Hợp đồng thế chấp số 1022/2015/HĐBĐ/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 giữa ông Lâm Hồng D với Ngân hàng TMCP Đ2 được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C2 bị vô hiệu.
Hủy bỏ một phần của hợp đồng vay tiền không ngày tháng năm (Bên cho vay ông Nguyễn Hoàng Ú, bên vay ông Phan Văn T1, bà Lê Hồng Đ, người ký tên phía dưới hợp đồng “BÊN B” bà Phan Thị Diễm T): Hủy bỏ phần cho vay và vay 300.000.000 đồng và thế chấp giấy chứng nhận QSD đất số BV870887 do UBND quận Ô cấp cho bà Phan Thị Diễm T, đất tại khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Thị Diễm T trả lại cho ông Lâm Hồng Danh số tiền 833.266.000 đồng (Tám trăm ba mươi ba triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Do ông Lâm Hồng D nợ Ngân hàng TMCP Đ2 nên bà T trả cho ông D thông qua Ngân hàng TMCP Đ2 là đơn vị nhận số tiền trên.
Khi bà Phan Thị Diễm T thực hiện trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ2 xong số tiền 833.266.000 đồng (Tám trăm ba mươi ba triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) thì Ngân hàng TMCP Đ2 phải trả lại toàn bộ giấy tờ về đất và tài sản gắn liền với đất (bản chính) đang giữ có liên quan đến các tài sản trên cho bà Phan Thị Diễm T.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối vời số tiền chậm trả theo lãi suất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Buộc ông Lâm Hồng D trả cho Ngân hàng TMCP Đ3 (tạm tính đến ngày 27/10/2023) là 1.645.603.185 đồng (Một tỷ sáu trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm lẽ ba nghìn một trăm tám mươi lăm đồng). Do bà Phan Thị Diễm T trả thay cho ông D 833.266.000 đồng (T3 trăm ba mươi ba triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) nên ông Lâm Hồng D còn phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ2 là 812.337.185 đồng (Tám trăm mười hai triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn một trăm tám mươi lăm đồng).
Ông Lâm Hồng D còn phải chịu trả tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng TMCP Đ2 từ ngày 28/10/2023 cho đến khi trả dứt nợ theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.
Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ2 về việc yêu cầu phát mãi tài sản ông D đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 1022/2015/HĐTD/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 gồm: Thửa đất số 424, tờ bản đồ số 88. Địa chỉ khu vực I, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ, diện tích 669m², hình thức sử dụng: Riêng 669m², mục đích sử dụng: đất ở 128m², đất cây lâu năm 541m². Nhà ở: diện tích xây dựng 82,07m², diện tích sàn 167,83m². Kết cấu: nền gạch men, khùng sàn bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái tol, tường gạch. Cấp hạng: cấp 3, số tầng: 02.
Ông Nguyễn Văn Đ1 được QSD phần đất có diện tích 60,5m², thửa 424, tờ bản đồ số 88, đất tọa lạc tại khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ CH04032 do UBND quận Ô cấp ngày 10/11/2015 tại vị trí A theo bản trích đo địa chính số 876/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C.
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận QSD đất và điều chỉnh giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo bản trích đo địa chính số 876/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C).
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí đo đạc thẩm định, án phí và quyền kháng cáo theo qui định.
Ngày 09/11/2023 Ngân hàng TMCP Đ2 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đối với Hợp đồng thế chấp tài sản, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc công nhận Hợp đồng thế chấp, được quyền phát mãi tài sản thu hồi nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu và trình bày bổ sung đề nghị Tòa xem xét chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an xem xét có hay không hành vi cấu kết của bà T với ông D để nhằm chiếm đoạt tài sản của nhà nước mà cụ thể là Ngân hàng.
Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- -Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Trên cơ sở xem xét tài liệu chứng cứ các bên cung cấp, căn cứ hợp đồng vay tiền (bản sao thể hiện việc bà T có vay công ty của ông Nguyễn Hoàng Ú số tiền 500.000.000 đồng thời hạn vay là 60 tháng (thế chấp 02 giấy chứng nhận QSD đất và làm HĐCN. Nguyên đơn cung cấp việc xin cấp giấy phép xây dựng nhà vào tháng 3 năm 2015 thể hiện việc nguyên đơn ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất mục đích vay tiền để cất nhà là có thật và có việc nguyên đơn vay ông Ú số tiền là 500.000.000 đồng, có trả cho ông Ú được 02 lần với số tiền 150.000.000 đồng, cần buộc chị T trả số tiền vay cho ông Ú theo Hợp đồng hai bên đã ký, như phân tích trên việc ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà T và ông D là giả cách theo Điều 129 Hợp đồng bị vô hiệu thì Hợp đồng vay tài sản có hiệu lực cần buộc bà T trả số tiền vay cho ông Ú là 500.000.000 đồng và tiền lãi, theo Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 khi Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất bị vô hiệu thì Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông D cũng bị vô hiệu, các bên trả trả cho nhau những gì đã nhận. Mặt khác ông D là người đứng tên nhưng không quản lý sử dụng, mà gia đình bà T và ông Đ1 là người đang sử dụng, hơn nữa Ngân hàng không có lập biên bản xem xét thẩm định định tại chỗ mà chỉ có biên bản thỏa thuận định giá tài sản thế chấp, điều đó cho thấy có sự lừa dối, giao dịch dân sự bị vô hiệu theo Điều 132 Bộ luật dân sự 2005
- Xét kháng cáo của Ngân hàng về việc công nhận Hợp đồng thế chấp là không có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng. Tuy nhiên tại phiên tòa bà T tự nguyện chịu trả thêm ½ số tiền lãi trong hạn nên ghi nhận. Phần diện tích đất của ông Đ1 được sử dụng, nhưng về thủ tục tách thửa khi đủ điều kiện đảm bảo theo qui định của Nhà nước.
- Đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo tự nguyện của đương sự (có phát biểu kèm theo)
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở tranh tụng của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung yêu cầu khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của các đương sự là là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do đối tượng tranh chấp là bất động sản toạ lạc tại địa bàn quận Ô, nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo khoản 3 và khoản 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là phù hợp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Lâm Hồng D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hoàng Ú được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Đồng thời, cũng có Quyết định tuyên bố mất tích và thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thủy A, Văn phòng C2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định chung của pháp luật.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Theo Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thửa đất số 424, tờ bản đồ số 88. Đất tọa lạc khu vực I, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ giữa bà Phan Thị Diễm T và ông Lâm Hồng D được công chứng ngày 25/8/2015 tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thủy A). Về nội dung và hình thức của Hợp đồng đúng quy định của pháp luật.
Giá chuyển nhượng là 350.000.000 đồng, bà T cho rằng giá thực tế giữa bà ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất với ông D là do bà đang trong giai đoạn xây dựng nhà thiếu tiền nên bà có ký Hợp đồng vay của ông Nguyễn Hoàng Ú số tiền là 500.000.000 đồng và thế chấp 02 giấy chứng nhận QSD đất cho ông Ú. Bà thế chấp thửa 424 với số tiền 300.000.000 đồng và thế chấp giấy chứng nhận QSD đất một thửa đất khác 200.000.000 đồng, giấy đất cha bà tên Phan Văn T1 đứng tên, nên cha mẹ bà đã khởi kiện thành vụ kiện khác tại TAND quận Ô Môn.
Theo các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện thì không có việc giao nhận tiền, chỉ có Hợp đồng vay tiền bên cho vay là Nguyễn Hoàng Ú, bên vay ông Phan Văn T1 và bà Lê Hồng Đ nhưng người ký tên phía dưới hợp đồng “Bên B” là Phan Thị Diễm T (hợp đồng cho vay tiền không có ngày tháng năm), thời hạn vay theo hợp đồng là 60 tháng, lãi suất 1%/tháng. Sau đó ông Nguyễn Hoàng Ú yêu cầu bà T ra Văn phòng C2 ký vào Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho ông Lâm Hồng D, giá chuyển nhượng là 350.000.000 đồng nhưng bà không nhận số tiền theo hợp đồng chuyển nhượng này (Giữa ông D và ông Ú có quan hệ như thế nào đến thời điểm hiện nay không xác định được vì cả hai đã không còn có mặt ở địa phương).
Đến ngày 10/11/2015 ông Lâm Hồng D được UBND quận Ô cấp giấy chứng nhận QSD đất số CH04032, ông D lại tiếp tục đem giấy chứng nhận QSD đất này thế chấp cho Ngân hàng TMCP Đ2 vay số tiền 862.000.000 đồng.
Trên thực tế thửa đất số 424 có diện tích theo giấy chứng nhận QSD đất là 669m², giá trị theo giá thị trường 1.200.000 đồng/m², như vậy tổng giá trị đất là 802.800.000 đồng, ngoài ra còn có các tài sản khác như: căn nhà cấp 3 do bà T xây dựng theo biên bản định giá ngày 09/6/2022 có giá trị 385.978.000 đồng, nhà phụ (cấp 4) giá 76.639.000 đồng, trại gà giá 111.530.000 đồng, cây trồng như dừa, xoáy, khế, mãng cầu... có tổng giá trị 18.104.000 đồng và căn nhà của ông Nguyễn Văn Đ1 có diện tích 36,2m² giá trị sử dụng 27.041.000 đồng. Trong khi bà T và ông D lập Hợp đồng chỉ chuyển nhượng QSD đất nhưng trên đất lại có rất nhiều tài sản gắn liền với đất nhưng các bên không đề cập gì.
Mặc khác, từ khi ký kết Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất đến nay thì gia đình bà T vẫn sinh sống, quản lý sử dụng và canh tác trên thửa đất này, không bàn giao đất và tài sản trên đất cho ông D, ông D cũng không có yêu cầu gì. Đồng thời, khi phát hiện giấy chứng nhận QSD đất ông D thế chấp cho Ngân hàng thì bà T có đứng ra trả lãi suất cho Ngân hàng vào ngày 20/4/2016 là 27.345.000 đồng và phía Ngân hàng có ra giấy nộp tiền mặt cho bà T. Trường hợp bà T có thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho ông D thì không lý do gì bà T lại đóng lãi suất cho Ngân hàng trong khi người vay là ông D. Điều đó cho thấy giao dịch dân sự giữa các bên là có sự giả tạo để che giấu một quan hệ giao dịch dân sự khác, nên giao dịch vay tiền bà T trình bày là có cơ sở.
Như đã phân tích trên, xét thấy nội dung của Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất có sự giả tạo và chủ thể tham gia giao dịch dân sự không hoàn toàn tự nguyện, đối chiếu với quy định tại Điều 122, 127, 129 Bộ luật Dân sự năm 2005, cần tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa các bên là vô hiệu. Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005, thì giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Theo đó, bà T đã nhận tiền từ ông Nguyễn Hoàng Ú là 300.000.000 đồng - 27.345.000 đồng trả cho Ngân hàng thay ông D – 117.750.000 đồng (bà T đã trả ông Ú 03 kỳ theo bản kê chi tiết trả nợ hàng quý kèm theo hợp đồng cho vay tiền mà ông Ú đã ký tên) = 154.905.000 đồng số tiền gốc mà bà T còn nợ ông Ú.
Như vậy, cần phải xác định rõ số nợ gốc hiện nay bà T đang nợ 154.905.000 đồng là nợ ông Ú nhưng do ông Ú yêu cầu bà T ký Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho ông D và ông D thế chấp cho Ngân hàng, hiện tại ông D còn nợ Ngân hàng nên cần phải buộc bà T trả nợ cho ông Ú, ông D thông qua Ngân hàng là người nhận, cụ thể:
154.905.000 đồng x 90 tháng 07 ngày (tính từ ngày 20/4/2016, ngày bà T trả nợ cho Ngân hàng thay ông D) x 1,125%/tháng = 157.248.000 đồng (làm tròn). Như vậy, bà Phan Thị Diễm T phải trả cho ông Ú và ông D thông qua Ngân hàng TMCP Đ2 là người nhận là 312.153.000 đồng.
Tại tòa, bà T đồng ý giao trả cho ông Nguyễn Hoàng Ú và ông Lâm Hồng D 833.266.000 đồng (số tiền gốc ông D nợ Ngân hàng) để được nhận giấy chứng nhận QSD đất về sang tên lại cho bà T là có lợi cho ông D và ông Ú nên ghi nhận sự tự nguyện của bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà T tự nguyện trả thêm ½ của số tiền lãi trong hạn là 268.217.000 đồng cần ghi nhận.
[3.2] Xét hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền QSD đất giữa Ngân hàng TMCP Đ2 với ông Lâm Hồng D:
Ngày 27/11/2015 Ngân hàng TMCP Đ2 với ông Lâm Hồng D đã ký Hợp đồng tín dụng để vay số tiền 862.000.000 đồng và ký kết Hợp đồng thế chấp QSD đất theo quy định của pháp luật. Nay ông D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu ông D trả nợ đến ngày 27/10/2023 là 1.645.603.185 đồng. Đối với Hợp đồng thế chấp QSD đất số: 1022/2015/HĐBĐ/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 đại diện Ngân hàng cho rằng đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định nên đề nghị được công nhận. Tuy nhiên, thời điểm giữa bà T và ông D ký kết Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, tuy ông D là người đứng tên QSD đất nhưng thực tế gia đình bà T và ông Đ1 đang quản lý, sử dụng. Tại thời điểm này gia đình bà T gồm cha là ông T1, mẹ bà Đ và căn nhà ông Đ1 cùng sinh sống, quản lý sử dụng tài sản và trồng các loại cây ăn trái trên đất, nhưng gia đình bà T, ông Đ1 không hay biết về việc ông D thế chấp cho Ngân hàng toàn bộ tài sản nêu trên, điều này cho thấy gia đình bà T cũng như ông Đ1 không có ý kiến gì về việc ông D thế chấp QSD đất cho Ngân hàng. Điều này đã vi phạm vào điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005, giao dịch dân sự bị vô hiệu theo Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Mặc khác, tại biên bản thỏa thuận định giá tài sản thế chấp, người hướng dẫn thẩm định là ông D, nhưng ông D không phải là người trực tiếp quản lý sử dụng thửa đất, điều này cho thấy có sự lừa dối, giao dịch dân sự bị vô hiệu theo Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005. Từ đó có đủ căn cứ để xác định Hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng TMCP Đ2 với ông D là vô hiệu. Hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005, thì giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Vì vậy, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ của Ngân hàng là không có căn cứ để chấp nhận.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng giữa ông Lâm Hồng D với Ngân hàng TMCP Đ2 thì ông D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng tạm tính đến ngày 27/10/2023 là 1.645.603.185 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 28/10/2023 đến ngày ông D trả dứt nợ là có cơ sở chấp nhận.
Về nguyên nhân dẫn đến các hợp đồng thế chấp và Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất nêu trên bị vô hiệu là do ông D và Ngân hàng TMCP Đ2 cùng có lỗi. Về phía ông D có lỗi dẫn đến các Hợp đồng bị vô hiệu như đã phân tích trên. Riêng Ngân hàng thì thực hiện chưa đầy đủ trách nhiệm trong việc thẩm định tài sản, chưa xác định và làm việc với người đang quản lý, canh tác trực tiếp trên đất nên phải gánh chịu hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
[4] Xét về yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ1:
Bà T thừa nhận thời điểm bà nhận chuyển nhượng thửa đất 424 và về đây cất nhà sinh sống thì đã có nhà ông Đ1 đang ở. Đối chiếu với Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 11/10/2014 bên chuyển nhượng là bà Đặng Ngọc D1, bên nhận chuyển nhượng bà Phan Thị Diễm T, diện tích đất chuyển nhượng là 584m² nhưng khi bà T lập thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất thì diện tích là 669m². Bà T thừa nhận do phần đất của ông Đ1 diện tích đất không đủ tách thửa nên khi bà làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất thì bà kê khai bao trùm luôn thửa đất của ông Đ1. Nay, bà cũng tự nguyện trả lại phần diện tích đất này cho ông Đ1. Đồng thời, tại biên bản lấy khai ngày 06/9/2023 ông C và bà S đều thừa nhận vào năm 2008 ông bà có chuyển nhượng cho ông Đ1 một nền nhà có diện tích 67,8m² với giá 9.000.000 đồng, vợ chồng ông đã nhận đủ tiền và giao đất cho ông Đ1 cất nhà để ở từ đó đến nay. Theo quy định tại điểm b.2 tiểu mục 2 mục II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình: “Nếu bên nhận chuyển nhượng đã trả đủ tiền chuyển nhượng đất; bên chuyển nhượng đã giao toàn bộ diện tích đất, thì Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất đó...”. Vì vậy cần công nhận phần diện tích này cho ông Đ1 theo yêu cầu độc lập của ông Đ1 là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên việc tách giấy đất tùy thuộc vào cơ quan chuyên môn xem xét theo qui định.
[5] Xét nội dung kháng cáo của Ngân hàng: Về việc công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp số 1022/2015 ngày 27/11/2015 để được phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm ngoài tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ Ngân hàng không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ, nên yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng không có cơ sở để chấp nhận. Như vậy bản án sơ thẩm xử là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà T tự nguyện trả thêm số tiền lãi trong hạn là 268.217.000 đồng (trong số 536.432.558 đồng) thay cho ông D là phù hợp qui định nên cần ghi nhận. Vì vậy cần sửa một phần bản án sơ thẩm theo sự tự nguyện của bà T, không tính lỗi của cấp sơ thẩm. Các yêu cầu khác của cấp sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên được giữ nguyên.
Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc chuyển hồ sơ sang Cơ quan công an xem xét có hay không việc cấu kết thực hiện hành vi lừa đảo của các đương sự không thuộc thẩm quyền của Tòa án trong vụ này, Ngân hàng tự thực hiện và gửi đơn đến cơ quan chức năng xem xét theo qui định của pháp luật.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
[7] Các vấn đề khác: Về chi phí đo đạc, định giá và chi phí trích đo 11.936.130 đồng, phía bà T đã nộp tạm ứng 6.066.130 đồng và Ngân hàng TMCP Đ2 đã nộp 5.870.000 đồng.
Xét thấy, trong vụ án này yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận và yêu cầu độc lập của Ngân hàng được chấp nhận 01 phần. Vì vậy, cần buộc ông D chịu 50% và Ngân hàng TMCP Đ2 chịu 50%.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
[9] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Nhận xét và đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của Ngân hàng TMCP Đ2.
- - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP Đ2.
Sửa một phần bản án sơ thẩm;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Diễm T.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số công chứng 2897 quyển số 03/2015/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/8/2015 giữa bà Phan Thị Diễm T với ông Lâm Hồng D được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C2 Nguyễn Thị Thủy A) và Hợp đồng thế chấp số 1022/2015/HĐBĐ/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 giữa ông Lâm Hồng D với Ngân hàng TMCP Đ2 được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C2 bị vô hiệu.
- Hủy một phần của Hợp đồng vay tiền không ngày tháng năm (Bên cho vay ông Nguyễn Hoàng Ú, bên vay ông Phan Văn T1, bà Lê Hồng Đ, người ký tên phía dưới hợp đồng “BÊN B” bà Phan Thị Diễm T): Hủy bỏ phần cho vay 300.000.000 đồng và thế chấp giấy chứng nhận QSD đất số BV870887 do UBND quận Ô cấp cho bà Phan Thị Diễm T, đất tại khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Thị Diễm T trả lại cho ông Lâm Hồng Danh số tiền 833.266.000 đồng (Tám trăm ba mươi ba triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Diễm T trả thêm phần lãi trong hạn cho Ngân hàng số tiền là 268.217.000 đồng. Tổng cộng là 1.101.483.000 đồng (một tỷ một trăm lẽ một triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng).
Do ông Lâm Hồng D nợ Ngân hàng TMCP Đ2 nên bà T trả cho ông D thông qua Ngân hàng TMCP Đ2 là đơn vị nhận số tiền trên.
- Khi bà Phan Thị Diễm T thực hiện trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ2 xong số tiền trả thay cho ông D 1.101.483.000 đồng (một tỉ một trăm lẽ một triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng) thì Ngân hàng TMCP Đ2 phải trả lại toàn bộ bản chính giấy tờ về đất và tài sản gắn liền với đất trên cho bà Phan Thị Diễm T.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối vời số tiền chậm trả theo lãi suất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ2.
- Buộc ông Lâm Hồng D trả cho Ngân hàng TMCP Đ3 (tạm tính đến ngày 27/10/2023) là 1.645.603.185 đồng (Một tỷ sáu trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm lẽ ba nghìn một trăm tám mươi lăm đồng). Do bà Phan Thị Diễm T trả thay cho ông D 1.101.483.000 đồng (một tỉ một trăm lẽ một triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng) nên ông Lâm Hồng D còn phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ2 là 544.120.185 đồng (Năm trăm bốn mươi bốn triệu một trăm tám mươi lăm đồng).
- Ông Lâm Hồng D còn phải chịu trả tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng TMCP Đ2 từ ngày 28/10/2023 cho đến khi trả dứt nợ theo Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.
- Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ2 về việc yêu cầu Chi cục thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản ông D đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 1022/2015/HĐTD/PVB-GDAP ngày 27/11/2015 gồm: Thửa đất số 424, tờ bản đồ số 88. Địa chỉ khu vực I, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ, diện tích 669m², hình thức sử dụng: Riêng 669m², mục đích sử dụng: đất ở 128m², đất cây lâu năm 541m². Nhà ở: diện tích xây dựng 82,07m², diện tích sàn 167,83m². Kết cấu: nền gạch men, khùng sàn bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái tol, tường gạch. Cấp hạng: cấp 3, số tầng: 02.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ1.
Ông Nguyễn Văn Đ1 được QSD phần đất có diện tích 60,5m², thửa 424, tờ bản đồ số 88, đất tọa lạc tại khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ trong giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ CH04032 do UBND quận Ô cấp ngày 10/11/2015 tại vị trí A theo bản Trích đo địa chính số 876/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C.
Các đương sự tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xem xét việc cấp giấy chứng nhận QSD đất và điều chỉnh giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo bản trích đo địa chính số 876/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C)
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lâm Hồng D phải chịu 61.368.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
Buộc Ngân hàng TMCP Đ2 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Ngân hàng TMCP Đ2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 30.899.000 đồng (Ba mươi triệu tám trăm chín mươi chín nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0003374 ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Bà Phan Thị Diễm T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.850.000 đồng (Năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0003465 ngày 29 tháng 8 năm 2022 và 5.550.000 đồng (Năm triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0003304 ngày 06 tháng 4 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
Ông Nguyễn Văn Đ1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí lệ phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0003899 ngày 08 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn.
5. Chi phí đo đạc, thẩm định, định giá và chi phí trích đo: Ngân hàng TMCP Đ2 phải chịu 5.968.000 đồng (Năm triệu chin trăm sáu mươi tám nghìn đồng). Buộc Ngân hàng TMCP Đ2 trả cho bà T 98.000 đồng (Chín mươi tám nghìn đồng).
Buộc ông Lâm Hồng D trả lại cho bà Phan Thị Diễm T 5.968.000 đồng (Năm triệu chin trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP Đ2 phải nộp 300.000đồng, chuyển số tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0004291 ngày 20/11/2023 của Chi cục THA quận B thành án phí (ghi nhận nộp xong).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 14/5/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Thị Hồng Dung |
Bản án số 186/2024/DSPT ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng qsd đất, tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 186/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa một phần án sơ thẩm
