|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 186/2023/HSST Ngày: 05/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quế Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Phúc
- Bà Lê Thị Kim Ngàn
- Thư ký phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Đoàn Mạnh Đ – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên toà:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Trần Trung Tín – Kiểm sát viên
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Ngọc T – Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2023/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an Q, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1396/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu H;
Giới tính: nam; sinh ngày 01/01/1998, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: C T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Hải H1 (sinh năm 1977) và bà Nguyễn Thị Kim M (sinh năm 1970);
Tiền án: 01 tiền án: Ngày 16/8/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo Bản án số 68/2017/HSST và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 650/2017/TB-TA ngày 24/10/2017); ngày 27/4/2019, chấp hành xong án phạt tù, chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung; đến ngày 24/7/2023, sau ngày phạm tội, được Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1 ra Quyết định đình chỉ thi hành án theo diện xét miễn giảm (theo Quyết định số 104/QĐ-CCTHADS).
Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 08/9/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Quyết định số 145/2020/QĐ-TA), ngày 28/8/2021 chấp hành xong.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 13/6/2023 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Thái S, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: 2 B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Linh T1, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài và mua ma túy để sử dụng nên Nguyễn Hữu H nãy sinh ý định tìm người có tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Ngày 09/6/2023, H mượn xe mô tô hiệu Honda loại Wave màu trắng, biển số 63B1-870.11 của Lê Linh T1 và nói chở vợ con đi khám bệnh. Khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, H (mặc áo khoác màu trắng đen, quần dài màu đen, đội nón bảo hiểm màu xanh có chữ Gojek màu trắng) điều khiển xe mô tô đến đầu hẻm E T, phường C, Quận A thì thấy anh Nguyễn Thái S đang ngồi bấm điện thoại hiệu Samsung Galaxy A21S màu xanh dương, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng nên nảy xin ý định cướp giật điện thoại di động của anh S. H liền quay xe lại, điều khiển xe áp sát anh S, dùng tay trái cướp giật chiếc điện thoại di động rồi kẹp vào giữa hai chân, sau đó điều khiển xe nhanh chóng tẩu thoát ra đường N sau đó chạy ra đường V. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, H quay lại khách sạn K, địa chỉ số F đường số G, xã B, huyện B để trả xe cho T1 và đưa chiếc điện thoại di động mà H vừa cướp giật được cho T1 nói là điện thoại của H nhờ T1 đi bán dùm với giá 2.000.000 đồng để lấy tiền chữa bệnh cho con, nếu bán được H sẽ cho T1 500.000 đồng. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, anh Nguyễn Thái S đến Công an phường C, Quận A trình báo sự việc. Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/06/2023, qua truy xét, Cơ quan Công an đã đưa Nguyễn Hữu H và Lê Linh T1 cùng tang vật về trụ sở Công an phường C, Quận A lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thụ lý.
Theo Kết luận định giá tài sản số 199/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận 01 điện thoại di động hiệu Samsung A21S, màu xanh dương, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng trị giá 1.500.000 đồng (BL 20-23).
Đối với Lê Linh T1 có hành vi cho Nguyễn Hữu H mượn xe mô tô và nhận bán giúp điện thoại cho H, quá trình điều tra xác định T1 không biết việc H mượn xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội và cũng không biết điện thoại mà H nhờ bán giúp là tài sản do H chiếm đoạt được mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý T1.
Vật chứng vụ án gồm có:
- - 01 (một) đĩa CD ghi nhận hình ảnh phạm tội của H (lưu kèm hồ sơ vụ án).
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu hiệu Samsung A21S, màu xanh dương, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng, số seri: 353996320948880, đã trả lại cho bị hại là Nguyễn Thái S (BL 27).
Tạm giữ của Nguyễn Hữu H:
- - 01 (một) áo khoác dài tay, màu trắng, có chữ Adidas; 01 (một) quần chất liệu thun, ống dài, màu đen; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen, có chữ Gucci; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh lá cây, có chữ G.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei (không kiểm tra được số imei).
Tạm giữ của Lê Linh T1:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04, số imei: 353263210582026;
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại xe Wave, màu trắng, biển số 63B1 - 870.11, số khung: RLHJA3602EY115590, số máy: JA36E0220608 do chị Phạm D (Thường trú: ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang) đứng tên đăng ký xe. Qua xác minh, chị D hiện đã đi khỏi nơi cư trú, đi đâu không rõ. Lê Linh T1 khai xe mô tô trên do người cô tên X cho làm phương tiện đi lại. Ngày 09/6/2023, T1 cho Nguyễn Hữu H mượn xe mô tô trên sử dụng nhưng không biết H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm người có liên quan đến xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có kết quả.
Các vật chứng trên hiện đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tạm giữ (BL 25).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Thái S đã nhận lại tài sản là điện thoại hiệu Samsung Galaxy A21S màu xanh dương, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng (BL 27) và không có yêu cầu gì khác (BL 42).
Tại Bản cáo trạng số 195/CT-VKS-Q1 ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Hữu H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ quyền công tố và tranh luận tại phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện có ý kiến như sau:
- Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Hữu H từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023.
- Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu hiệu Samsung A21S, màu xanh dương, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng, số seri: 353996320948880, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác.
- + Đối với 01 (một) áo khoác dài tay, màu trắng, có chữ Adidas; 01 (một) quần chất liệu thun, ống dài, màu đen; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen, có chữ Gucci; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh lá cây, có chữ Gojek, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei (không kiểm tra được số Imei) thu giữ của bị cáo và bị cáo khai là tài sản cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04, số Imei: 353263210582026, thu giữ của anh T1 và T1 khai là tài sản cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho T1.
- + Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại xe Wave, màu trắng, biển số 63B1 - 870.11, số khung: RLHJA3602EY115590, số máy: JA36E0220608 do chị Phạm D (Thường trú: ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang) đứng tên đăng ký xe. Qua xác minh, chị D hiện đã đi khỏi nơi cư trú, đi đâu không rõ. Lê Linh T1 khai xe mô tô trên do người cô tên X cho làm phương tiện đi lại. Ngày 09/6/2023, T1 cho Nguyễn Hữu H mượn xe mô tô trên sử dụng nhưng không biết H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm người có liên quan đến xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Xét thấy anh T1 không biết H sử dụng xe mô tô này làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại tài sản cho T1.
Bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hữu H tại phiên tòa phù hợp với biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ, bản kết luận định giá tài sản số 199/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - U, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra (BL 39-136) và diễn biến tại phiên tòa, có căn cứ xác định: Vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 09/6/2023, tại đầu hẻm S T, phường C, Quận A, Nguyễn Hữu H có hành vi điều khiển xe mô tô dùng tay trái giật 01 điện thoại di động hiệu Samsung A21S, màu xanh dương, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng trị giá 1.500.000 đồng của anh Nguyễn Thái S rồi nhanh chóng tẩu thoát.
[3] Xét, bị cáo Nguyễn Hữu H dùng xe mô tô để thực hiện việc cướp giật tài sản là trường hợp dùng thủ đoạn mà nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của bị hại hoặc người khác để cướp giật tài sản. Đồng thời, cũng xét bị cáo có 01 tiền án bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo Bản án số 68/2017/HSST ngày 16/8/2017 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 650/2017/TB-TA ngày 24/10/2017); ngày 27/4/2019, chấp hành xong án phạt tù, chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung; đến ngày 24/7/2023 (sau thời điểm thực hiện hành vi phạm tội), được Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1 ra Quyết định đình chỉ thi hành án theo diện xét miễn giảm (theo Quyết định số 104/QĐ-CCTHADS) nên chưa được xóa án tích (BL 108-111, 115, 119-121). Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng - là trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của Nguyễn Hữu H đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự - an toàn xã hội. Do vậy, cần phải được xử lý nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không quá lớn, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
[7] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cân nhắc việc bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Quyết định số 145/2020/QĐ-TA ngày 08/9/2020), ngày 28/8/2021 chấp hành xong (BL 112-114, 116-118) khi xem xét lượng hình.
[8] Xét, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
[9.1] Đối với 01 đĩa CD ghi nhận sự việc bị cáo Nguyễn Hữu H thực hiện hành vi phạm tội, cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[9.2] Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu hiệu Samsung A21S, màu xanh dương, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng, số seri: 353996320948880, bị hại Nguyễn Thái S đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt (BL 27) và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9.3] Đối với 01 (một) áo khoác dài tay, màu trắng, có chữ Adidas; 01 (một) quần chất liệu thun, ống dài, màu đen; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen, có chữ Gucci; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh lá cây, có chữ Gojek, là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9.4] Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei (không kiểm tra được số Imei) thu giữ của bị cáo và bị cáo khai là tài sản cá nhân, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[9.5] Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04, số imei 1: 353263210582026, số imei 2: 359377370582024, thu giữ của Lê Linh T1, ông T1 khai là tài sản cá nhân, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho ông T1.
[9.6] Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng, biển số 63B1 - 870.11, số khung: RLHJA3602EY115590, số máy: JA36E0220608, do chị Phạm D, sinh năm 1979 đứng tên đăng ký xe. Qua xác minh, chị D có đăng ký thường trú tại Tổ B, Ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang, hiện đã đi khỏi địa phương, không rõ lý do vắng mặt, hiện nay ở đâu, làm gì không rõ (BL 97). Ông Lê Linh T1 khai xe mô tô trên do người cô tên X ở Tiền Giang cho mượn để làm phương tiện đi lại từ năm 2021, giấy chứng nhận đăng ký xe ông T1 đã đem đi cầm. Quá trình điều tra, ông T1 và bị cáo khai vào ngày 09/6/2023, T1 cho bị cáo mượn xe mô tô trên sử dụng nhưng T1 không biết H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có kết quả (BL 50-51, 95-97). Vì vậy, cần tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của chiếc xe, hết thời hạn thông báo mà không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại chiếc xe cho ông Lê Linh T1 theo quy định tại Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.
[10] Đối với ông Lê Linh T1 có hành vi cho Nguyễn Hữu H mượn xe mô tô và nhận bán giúp điện thoại cho H, quá trình điều tra xác định ông T1 không biết việc H mượn xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội và cũng không biết điện thoại mà H nhờ bán giúp là tài sản do H phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý ông T1 là có cơ sở.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023.
Tiếp tục tạm giam Nguyễn Hữu H để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- + Tiếp tục lưu giữ 01 đĩa CD ghi nhận sự việc Nguyễn Hữu H thực hiện hành vi phạm tội trong hồ sơ vụ án.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác dài tay, màu trắng, có chữ Adidas; 01 (một) quần chất liệu thun, ống dài, màu đen; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen, có chữ Gucci; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh lá cây, có chữ G; tình trạng: đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho Nguyễn Hữu H 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei (không kiểm tra được số imei); tình trạng: đã qua sử dụng, không kiểm tra được tình trạng máy bên trong.
- + Trả lại cho ông Lê Linh T1 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04, số imei 1: 353263210582026, số imei 2: 359377370582024; tình trạng: đã qua sử dụng, không kiểm tra được tình trạng máy bên trong.
- + Giao 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại xe Wave, màu trắng, biển số 63B1 - 870.11, số khung: RLHJA3602EY115590, số máy: JA36E0220608; tình trạng: đã qua sử dụng, không kiểm tra được bên trong cho Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q thông báo. Hết thời hạn trên mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe thì trả lại chiếc xe trên cho ông Lê Linh T1.
(theo Lệnh nhập kho vật chứng số 161/2023/LNK-ĐTTH ngày 13/7/2023 của Công an Q)
- Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quế Hương |
Bản án số 186/2023/HSST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 186/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 4 năm 06 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản"
