Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1858/2024/DS-ST
Ngày: 15/5/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Hương Thủy
  2. Ông Nguyễn Cửu Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát Viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1639/2023/TLST-DS ngày 26/10/2023, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1783/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 2368/2024/QĐST-DS ngày 23/4/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H
    Trụ sở: Số B đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Tạ Thị Ngọc N, sinh năm 1985 (Văn bản ủy quyền số 15.NGA/2023/GUQ-HDN076 ngày 10/8/2023) (có yêu cầu vắng mặt)
  2. Bị đơn: Ông C Trần Ngọc P, sinh năm 1978 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Số B đường Đ, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H (sau đây gọi tắt là: Ngân hàng) có người đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Ngày 05/8/2021, ông C Trần Ngọc P có ký với Ngân hàng Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng theo hình thức cấp thẻ tín dụng MASTER Card. Căn cứ vào thu nhập của ông P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 100,000,000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân; Phương thức bảo đảm cấp thẻ: Tín chấp.

Ông C Trần Ngọc P bắt đầu sử dụng thẻ tín dụng từ ngày 06/08/2021; trong sao kê tháng 8/2021 chốt ngày 15/08/2021 đã sử dụng tổng số tiền là 99.991.000 đồng gần hết hạn mức thẻ tín dụng đã cấp. Ông Chung Trần Ngọc P1 thanh toán đầy đủ lãi, phí đúng hạn theo sao kê hàng tháng, duy trì xuyên suốt trong 19 kỳ sao kê. Đến kỳ sao kê tháng 2/2023 chốt ngày 15/2/2023 (ngày đến hạn thanh toán là 6/3/2023), ông C Trần Ngọc P1 đã không thực hiện việc thanh toán số tiền G là 99.740.326 đồng và cũng không thanh toán số tiền tối thiểu của sao kê. Vì vậy, sang kỳ sao kê tháng 3/2023 chốt ngày 15/3/2023 bị phát sinh phí chậm thanh toán OVD là 119.688 đồng và lãi là 3.366.578 đồng. Các kỳ sao kê tiếp theo, ông C Trần Ngọc P1 không thanh toán lãi phí theo sao kê hàng tháng cho Ngân hàng.

Kể từ ngày 06/05/2023, Ngân hàng thực hiện ngưng sử dụng thẻ tạm thời do ông C Trần Ngọc P1 không thanh toán dư nợ Gốc và/hoặc số tiền thanh toán tối thiều thẻ tín dụng liên tục 60 ngày (căn cứ theo điểm 16.6 Điều 16 của Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng). Đến ngày 06/06/2023, Ngân hàng chấm dứt sử dụng thẻ và tiến hành các thủ tục thu hồi nợ đối với toàn bộ nợ Gốc 99.740.326 đồng. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông C Trần Ngọc P1 trả nợ nhưng ông P1 lẩn tránh, cắt đứt mọi liên lạc và không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng.

Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết quyết những vấn đề sau đây: Buộc ông C Trần Ngọc P1 phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc, lãi phí tạm tính đến ngày 15/03/2024 cho Ngân hàng với tổng số tiền là 187.342.415 (Một trăm tám mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm mươi lăm) đồng, trong đó: Nợ gốc: 99.740.326 đồng; Lãi là 36.002.162 đồng; P2 là 51.599.927 đồng, gồm: Phí chậm thanh toán OVD là 49.203.687 đồng, phí vượt hạn mức OVL là 1.956.240 đồng, phí thường niên là 440.000 đồng. Ngoài ra, ông C Trần Ngọc P1 còn phải thanh toán phần nợ lãi và phí phát sinh thêm đối với số nợ thực tế theo mức lãi suất và phí quy định thỏa thuậ trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng kể từ sau ngày 15/3/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

- Bị đơn ông Chung Trần Ngọc P1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai của ông P1 được.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H (H) khởi kiện ông C Trần Ngọc P1 yêu cầu ông P1 phải thanh toán nợ gốc, lãi quá hạn phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ trong hợp đồng là đúng quy định theo điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQHĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Căn cứ vào kết quả của Phiếu yêu cầu xác minh số 7789/ PYCXM ngày 14/12/2024 Công an phường T, thành phố T trả lời như sau: “Chung Trần Ngọc P1, SN 1978 có HKTT và thực tế cư trú tại B đường Đ, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên, tại các thời điểm Tòa án thực hiện việc hành tống đạt, ông P1 không có mặt ở nhà, có mẹ ruột là bà Trần Thị N1, ở cùng nhà nhận thay và cam kết giao lại các văn bản tố tụng cho ông P1. Trong tất cả các lần Tòa án triệu tập, ông C Trần Ngọc P1 đều vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đại diện theo ủy quyền là bà Tạ Thị Ngọc N có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về nội dung vụ án:

Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H yêu cầu buộc ông C Trần Ngọc P1 phải thanh toán phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc, lãi phí tạm tính đến ngày 15/5/2024 với tổng số tiền là 208.242.122 đồng (Hai trăm lẻ tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn một trăm hai mươi hai đồng) trong đó: Nợ gốc: 99.740.326 đồng; Lãi là 41.502.909 đồng; P2 phát sinh: 66.998.887 đồng, gồm: Phí chậm thanh toán OVD là 64.602.647 đồng, phí vượt hạn mức OVL là 1.956.240 đồng, phí thường niên là 440.000 đồng. Ngoài ra, ông C Trần Ngọc P1 còn phải thanh toán phần nợ lãi và phí phát sinh thêm đối với số nợ thực tế theo mức lãi suất và phí quy định thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng kể từ sau ngày 15/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng mà các bên đã ký kết.

Hội đồng xét xử xét yêu cầu này của ngân hàng như sau:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có cơ sở xác định: Theo Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng tín dụng ngày 05/8/2021, ông C Trần Ngọc P1 có ký với Ngân hàng Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng theo hình thức cấp thẻ tín dụng MASTER Card. Căn cứ vào thu nhập của ông P1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân; Phương thức bảo đảm cấp thẻ: Tín chấp; Lãi suất theo bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Các thỏa thuận này không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Quá trình tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bản tóm tắt sao kê, căn cứ vào hồ sơ đề nghị cấp thẻ tín dụng của bị đơn để xác định bị đơn đã nhận thẻ và thực hiện giao dịch từ ngày 06/08/2021; trong sao kê tháng 8/2021 chốt ngày 15/08/2021 đã sử dụng tổng số tiền là 99.991.000 đồng gần hết hạn mức thẻ tín dụng đã cấp. Ông Chung Trần Ngọc P1 thanh toán đầy đủ lãi, phí đúng hạn theo sao kê hàng tháng, duy trì xuyên suốt trong 19 kỳ sao kê. Đến kỳ sao kê tháng 2/2023 chốt ngày 15/2/2023 (ngày đến hạn thanh toán là 6/3/2023), ông C Trần Ngọc P1 đã không thực hiện việc thanh toán số tiền gốc là 99.740.326 đồng và cũng không thanh toán số tiền tối thiểu của sao kê. Vì vậy, sang kỳ sao kê tháng 3/2023 chốt ngày 15/3/2023 bị phát sinh phí chậm thanh toán OVD là 119.688 đồng và lãi là 3.366.578 đồng. Các kỳ sao kê tiếp theo, ông C Trần Ngọc P1 không thanh toán lãi phí theo sao kê hàng tháng cho Ngân hàng.

Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/06/2023, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại là 2,6% x 150% = 3,9%/ tháng

Tính đến ngày xét xử (ngày 15/5/2024), ông C Trần Ngọc P1 còn nợ các khoản sau:

Nợ gốc: 99.740.326 đồng; Lãi là 41.502909 đồng; P2 phát sinh: 66.998.887 đồng, bao gồm: Phí chậm thanh toán OVD là 64.602.647 đồng, phí vượt hạn mức OVL là 1.956.240 đồng, phí thường niên là 440.000 đồng. Tổng số tiền là 208.242.122 đồng (Hai trăm lẻ tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn một trăm hai mươi hai đồng).

Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H là tổ chức tín dụng được phép kinh doanh tiền tệ, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng thì các tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng.

Căn cứ theo Điều 7 Quyết định số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì “Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của luật các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất”. Như vậy, lãi suất được Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H sử dụng để tính lãi đối với khoản nợ của ông P1 phù hợp với mức lãi suất quy định nên có căn cứ để chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đầy đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H, buộc ông C Trần Ngọc P1 phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 208.242.122 đồng (Hai trăm lẻ tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn một trăm hai mươi hai đồng); Trong đó: Nợ gốc: 99.740.326 đồng; Lãi là 41.502909 đồng; P2 phát sinh: 66.998.887 đồng, bao gồm: Phí chậm thanh toán OVD là 64.602.647 đồng, phí vượt hạn mức OVL là 1.956.240 đồng, phí thường niên là 440.000 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông C Trần Ngọc P1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.

[4]. Về án phí:

Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí. Án phí dân sự sơ bị đơn phải chịu trên số tiền thanh toán cho nguyên đơn là 10.412.106 đồng. Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.067.273 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0006076 ngày 26/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

[5].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ- HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo;
  • Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H đối với ông Chung Trần Ngọc P1 về việc thanh toán các khoản nợ tín dụng.

Buộc ông C Trần Ngọc P1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H số nợ gốc và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 15/5/2024 tổng cộng số tiền là 208.242.122 đồng (Hai trăm lẻ tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn một trăm hai mươi hai đồng); (Trong đó: tiền nợ gốc là 99.740.326 đồng; Lãi là 41.502909 đồng; P2 phát sinh: 66.998.887 đồng, bao gồm: Phí chậm thanh toán OVD là 64.602.647 đồng, phí vượt hạn mức OVL là 1.956.240 đồng, phí thường niên là 440.000 đồng). Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông C Trần Ngọc P1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  1. Về án phí: Ông C Trần Ngọc P1 phải chịu án phí là 10.412.106 (mười triệu bốn trăm mười hai nghìn một trăm lẻ sáu) đồng. Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.067.273 (ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm bảy mươi ba) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0006076 ngày 26/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức. Ông Chung Trần Ngọc P1 chưa nộp án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành Phố H, ông C Trần Ngọc P1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1858/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1858/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger