|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 185/2024/HS-ST Ngày: 31 - 7 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hồng Chiến;
- Bà Trần Kim Thoa.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 199/2024/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 2000 tại Bạc Liêu; nơi ĐKHKTT: Số B, ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế công nghệ; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 20/6/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 44/2019/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/02/2020 và đã đóng án phí.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1978; địa chỉ: Số E, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người làm chứng: Trần Thúy A, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 30/01/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio Ultimo, màu đỏ, biển số 61L3-7031 chạy đến khu vực trước cây xăng L thuộc khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp đối tượng tên T1 (không rõ đặc điểm nhân thân, lai lịch) mua 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy với giá 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, H cất giấu ma túy trong người mang về với mục đích để sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 31/01/2024, sau khi ngồi ăn uống xong thì H điều khiển xe mô tô biển số 61L3-7031 chở Trần Thúy A để về phòng trọ. Khi cả hai đến đoạn đường A nối dài giao với đường B thuộc khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị Phòng C Công an tỉnh B tuần tra thấy nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong tay trái của H có 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy nên lực lượng Công an tiến hành thu giữ tang vật, bàn giao cho Công an phường A lập biên bản vụ việc, chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý theo quy định.
Tang vật thu giữ: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Mio Ultimo, màu đỏ, biển số: 61L3-7031.
Theo Bản kết luận giám định số 807/KL-KTHS (MT) ngày 07/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 1,8208gam.
Tại bản Cáo trạng số 184/CT-VKS-TA ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong, ghi số vụ 807/PC09 là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 1,7775 gam, mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là chất cấm nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Gemi IL2 của bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng liên lạc với đối tượng T1, trên đường đi H đã làm mất hiện không thu hồi được nên không đặt ra xem xét.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio Ultimo, màu đỏ, biển số: 61L3-7031 do Nguyễn Văn H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra, xác minh được biết xe mô tô trên của bà Nguyễn Thị P đứng tên trên giấy đăng ký, bà P khai nhận đã bán xe mô tô trên cho người khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) và không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận đã mua xe mô tô trên của một người không rõ lai lịch, địa chỉ để làm phương tiện đi lại. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trưng cầu giám định số khung, số máy không thay đổi, đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không có kết quả nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với đối tượng T1 (không rõ đặc điểm nhân thân, lai lịch) đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh nhưng không có thông tin đầy đủ đối tượng này nên sẽ tiếp tục xác minh, khi nào rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Trần Thúy A sau khi ngồi ăn uống với Nguyễn Văn H xong thì nhờ H chở về phòng trọ, A không biết H cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý hình sự đối với A là có căn cứ.
Bị cáo thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 31/01/2024, tại đoạn đường A nối dài giao với đường B thuộc khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 1,8208 gam nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo với tội danh, điều, khoản và điểm nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận nhân dân. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để có ma tuý cho bản thân sử dụng đã cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Lời đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong, ghi số vụ 807/PC09 là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 1,7775 gam, mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là chất cấm nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Gemi IL2 của Nguyễn Văn H sử dụng liên lạc với đối tượng T1, trên đường đi H đã làm mất hiện không thu hồi được nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio Ultimo, màu đỏ, biển số: 61L3-7031 do Nguyễn Văn H sử dụng làm phương tiện phạm tội do bà Nguyễn Thị P đứng tên trên giấy đăng ký giấy chứng nhận đăng ký xe. Bà P khai nhận đã bán xe mô tô trên cho người khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) và không làm thủ tục sang tên đổi chủ. H khai nhận đã mua xe mô tô trên của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) để làm phương tiện đi lại. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trưng cầu giám định số khung, số máy không thay đổi, đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không có kết quả nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với đối tượng T1 đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh nhưng không chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Đối với Trần Thúy A không biết H cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý hình sự đối với A.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
- - Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã niêm phong, ghi số vụ 807/PC09, (mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K1 Công an tỉnh B), bên ngoài bì thư có chữ ký người có đồ vật tài liệu bị niêm phong Nguyễn Văn H, chữ ký người chứng kiến Trần Thúy A, chữ ký cán bộ niêm phong Hoàng Văn S, chữ ký Thiếu tá Tạ Quốc T2 và hình dấu đỏ của Công an phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (kèm theo kết luật giám định số 807/KL-KTHS(MT) ngày 07/02/2024).
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô 02 bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Mio Ultimo 4P83, thể tích 113,7cm³, mang biển số kiểm soát 61L3-7031, có số khung: RLCM4P830 7Y006915, số máy: 4P83-006915.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/7/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc K |
Bản án số 185/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 185/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn văn H
