Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 185/2024/DS – ST

Ngày: 31 – 5 – 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản,

hợp đồng cầm cố tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hùng Bích
  2. Ông Phạm Ngọc Nguyên.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản” thụ lý số 94/2024/TLST – DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QĐXXST – DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 21/2024/QĐST – DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trần N, sinh năm 1979
  2. Địa chỉ: Số B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: Ông Vũ Thanh S, sinh năm 1993 – Chủ Hộ kinh doanh dịch vụ Cầm đồ Vân 2
  4. Địa chỉ: Số B T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, có mặt ông Nguyễn Trần N và ông Vũ Thanh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Trần N, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà trình bày:

Do cần tiền để xoay xở trong gia đình nên ngày 10/10/2023 ông vay của ông Vũ Thanh S là chủ tiệm Cầm đồ V 2 số tiền 5.000.000 đồng. Để bảo đảm tiền vay, ông cầm cố cho ông S 01 chiếc xe gắn máy biển số 67AA – 13759, nhãn hiệu SYM, số khung RLGHU05AMKD202158, số máy VMVV1AD202158 do ông đứng tên đăng ký xe. Ông giao xe và bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông S quản lý. Hai bên thỏa thuận thời hạn vay là 30 ngày, lãi suất vay là 2%, phí lưu kho là 210.000 đồng và ký kết hợp đồng cầm cố, thế chấp ngày 10/10/2023. Mặc dù lãi suất thoả thuận là 2% nhưng ông S lấy lãi là 6%/tháng. Sau khi nhận đủ tiền vay, ông đã nộp lãi 02 kỳ cho ông S vào ngày 10/11/2023 và ngày 10/12/2023, tổng số tiền là 600.000 đồng. Khi ông S nhận tiền lãi có ký tên nhận lãi trực tiếp vào bản chính của hợp đồng nhưng không ghi rõ số tiền nhận lãi. Đến 04/02/2024, ông đến liên hệ ông S để trả tiền chuộc xe, ông S trả lời đã bán xe do ông vi phạm 01 kỳ là tháng 01/2024. Hai bên có cự cãi, ông S thách thức ông đi thưa kiện nên ngày 05/02/2024 ông gửi đơn khởi kiện. Nay, do xe của ông, ông S đã bán nên ông chỉ yêu cầu ông S trả lại giá trị xe là 15.000.000 đồng. Ông đồng ý trả ông S lại 5.000.000 đồng đã vay, đồng ý trả lãi thêm 01 tháng là 100.000 đồng, tức trả 5.100.000 đồng, ông S có nghĩa vụ trả lại ông là 9.900.0000 đồng.

Tại phiên tòa:

Ông Nguyễn Trần N trình bày: Mặc dù ông đến nộp lãi có trễ hơn lần trước nhưng ông S cũng không có quyền bán tài sản của ông. Ông xác định, giữa ông và ông S không có ký kết thêm văn bản thỏa thuận nào khác ngoài Hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản ngày 10/10/2023 và cũng không có thỏa thuận miệng bên ngoài về những vấn đề liên quan đến việc cầm cố xe. Nay, ông không chứng minh được xe ông cầm cho ông S có giá trị là là 15.000.000 đồng nên ông đồng ý khấu hao giá trị tài sản mỗi năm là 10%, ông đồng ý trả lại ông S 5.000.000 đồng tiền vay, đồng ý trả lãi vay và phí lưu kho của tháng 01 năm 2024 là 400.000 đồng, đối với số tiền ông đã nộp lãi và phí lưu kho cho ông S thời gian qua, ông không tranh chấp.

Ông Vũ Thanh S trình bày: Thừa nhận có ký Hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản ngày 10/10/2023 với ông N. Ngoài hợp đồng này ra, giữa ông và ông N không có ký kết hợp đồng nào khác, cũng không có thỏa thuận bên ngoài về việc gia hạn thêm thời gian vay tiền và thời gian cầm giữ tài sản. Ông N có nộp lãi và phí lưu kho của kỳ tháng 11/2023 và tháng 11/2024, tổng cộng được 620.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó đến kỳ tháng 01/2024, ông N trễ lãi quá lâu và không liên hệ với ông nên ông đã bán tài sản cầm cố với giá 6.000.000 đồng để thu hồi vốn. Do ông bán tài sản cầm cố không có lập hợp đồng, không biết người mua là ai nên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Nay, ông đồng ý trả lại cho N 3.000.000 đồng là tiền sau khi trừ 5.000.000 đồng tiền vay, tiền lãi và phí lưu kho còn thừa lại.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thư ký, Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Căn cứ Hợp đồng cấm cố, thế chấp tài sản số 23/1281 ngày 10/10/2023, sự thừa nhận của các đương sự là đủ cơ sở để xác định, ông N và ông S tự nguyện xác lập hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản có thời hạn và có lãi. Nhận thấy, quá trình thực hiện hợp đồng, mặc dù các bên không có ký kết thêm hợp đồng mới nhưng các bên đều mặc nhiên thống nhất tiếp tục duy trì hợp đồng với các nội dung cam kết không thay đổi. Do đó, việc ông N thực hiện nghĩa vụ trả lãi trễ là vi phạm sự thỏa thuận nên việc ông S bán tài sản cầm cố là phù hợp với hợp đồng. Tuy nhiên, sau khi bán tài sản cầm cố, ông N đã thu hồi được vốn lãi nhưng không trả lại ông S phần tiền còn thừa là không phù hợp với khoản 2 Điều 307 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (viết tắt BLDS). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông S phải trả lại phần giá trị còn lại sau khi trừ phần tiền vay, lãi và phí lưu kho. Về giá trị tài sản cầm cố, cả ông N và ông S đều không chứng minh được giá trị tài sản cầm cố. Hội đồng định giá và Công ty T không thể định giá được tài sản này do không tiếp cận được tài sản cần định giá. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tương tư pháp luật là Mục 1 Phần 4 Thông tư số 23/2023/TT-BTC ngày 25/4/2023 của Bộ T1 (hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp), trừ hao mòn tài sản cầm cố mỗi năm là 10%, giá trị còn lại là 60%. Tại phiên tòa, ông N cũng thống nhất xác định giá trị còn lại của xe gắn máy biển số 67AA – 13759 là 12.270.000 đồng, đồng ý trả lãi và phí lưu kho của kỳ tháng 01/2024 là 400.000 đồng và số tiền cầm cố tài sản đã nhận 5.000.000 đồng. Sự tự nguyện là phù hợp cho quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.

Về nội dung:

[2] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là bản chính Hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản số 23/1281 ngày 10/10/2023, bản photo các ảnh chụp thủ tục mua xe của ông Nguyễn Trần N. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thu thập Phiếu trả lời xác minh xe ngày 28/02/2024 và Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 52A8035036 đăng ký lần đầu ngày 02/7/2021. Nội dung thể hiện, năm 2019, ông N có mua 01 chiếc xe gắn máy dưới 50cm3, nhãn hiệu SYM, màu đỏ trắng, sản xuất năm 2019, số loại ELITE VV1, số khung RLGHU05AMKD202158, số máy VMVV1AD202158, biển số 67AA – 13759 ngày đăng ký 27/12/2019; ngày 10/10/2023, ông N ký kết hợp đồng cầm cố tài sản trên với ông Vũ Thanh S là chủ Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ V 2 để vay 5.000.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày (kể từ ngày 10/10/2023), lãi suất 2%/tháng, phí lưu kho 210.000 đồng.

[3] Tại phiên tòa, phía bị đơn thừa nhận giữa ông và ông N có ký hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản trên, ông đã giao ông N iền vay là 5.000.000 đồng, ôgn N giao ông cầm giữ là xe gắn máy dưới 50cm3 biển số 67AA – 13759 và bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe. Do đó, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định giữa nguyên đơn và bị đơn tự nguyện giao kết hợp đồng vay tài sản có thời hạn, có lãi và cầm cố tài sản có thời hạn để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 465, 466, 470, 309, 310, 311, 312, 314, 316 của BLDS 2015 và Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện để xem xét yêu cầu khởi kiện.

[4] Các đương sự thống nhất, sau khi nhận tiền vay, ông N có đến thực hiện nghĩa vụ được 02 kỳ là vào ngày 10/11/2023, 10/12/2023 với số tiền mỗi tháng 310.000 đồng, bao gồm tiền lãi là 100.000 đồng và 210.000 đồng tiền phí lưu kho tài sản cầm cố; đến kỳ của tháng 01/2024, ông N không nộp lãi nên ông S đã bán tài sản cầm cố. Ông N thừa nhận, do bận việc làm ăn nên ông đến yêu cầu chuộc lại xe trễ 24 ngày.

[5] Xét thấy, nội dung hợp đồng thỏa thuận thời hạn vay, cầm cố tài sản là 30 ngày. Tuy nhiên, hết thời hạn 30 ngày theo hợp đồng, ông N nộp lãi và phí lưu kho nhưng các bên không kết thúc hợp đồng như thỏa thuận mà vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng thêm lần 2, lần 3. Các bên đều khẳng định, sau khi kết thúc 30 ngày, hai bên không xác lập hợp đồng mới và xác định tiếp tục thực hiện theo nội dung của Hợp đồng cấm cố, thế chấp tài sản ngày 10/10/2023. Như vậy, ông S và ông N mặc nhiên thỏa thuận gia hạn thêm thời gian vay và cầm cố tài sản, mỗi lần gia hạn là 30 ngày. Phía ông Nghĩa là chủ cơ sở kinh doanh ngành nghề có điều kiện không lập thành văn bản đối với 02 lần thỏa thuận sau là vi phạm quy định tại khoản 2 Điểu 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, do các bên không ai yêu cầu xem xét về điều kiện này và thống nhất thực hiện theo toàn bộ nội dung của hợp đồng ban đầu nên Hội đồng xét xử tiếp tục xem xét về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng.

[6] Xét thấy, việc ông N đến ngày 04/02/2024 để yêu cầu chấm dứt hợp đồng vay và cầm cố là đã vi phạm nghĩa vụ là 24 ngày. Do đó, ông S bán tài sản cầm cố để thu hồi nợ là phù hợp với thỏa thuận giữa các bên và khoản 2 Điều 314 của BLDS.

[7] Theo khoản 2 Điều 307 của BLDS quy định “... Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm ...”.

[7.1] Xét thấy, phía ông S không cung cấp được hợp đồng mua bán để chứng minh ông bán tài sản cầm cố với giá 6.000.000 đồng nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận lời trình bày của ông. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thành lập Hội đồng định giá cũng như có văn bản gửi đến công ty có chức thẩm định giá để xác định định giá trị còn lại của xe gắn máy dưới 50cm³ biển số 67AA - 13759. Tuy nhiên, do không tiếp cận được tài sản, không có hình ảnh hiện trạng nên không thể thẩm định giá trị tài sản này. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng tương tự pháp luật là hướng dẫn tính tỷ lệ hao mòn là 10%/năm đối với phương tiện vận tải đường bộ tại Mục 1 Phần 4 của Thông tư số 23/2023/TT-BTC ngày 25/4/2023 của Bộ T1 (hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp). Cụ thể, tài sản cầm cố được mua mới vào ngày 24/12/2019 là 20.450.000 đồng, đến ngày 10/10/2023 là 04 năm. Giá trị còn lại sau khi trừ hao mòn 10%/năm là 12.270.000 đồng (tương đương 60% giá trị tài sản).

[7.2] Tại phiên tòa, ông N đồng ý khấu hao tài sản theo hướng dẫn của Thông tư số 23/2023/TT – BTC ngày 25/4/2024, đồng ý trả lại tiền vay 5.000.000 đồng, tiền lãi và phí lưu kho của kỳ tháng 01/2024 là 400.000 đồng. Sự tự nguyện này là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông S phải có nghĩa vụ trả lại cho ông N số tiền là 6.870.000 đồng.

[8] Về tiền lãi: Phía nguyên đơn và bị đơn không ai yêu cầu xem xét lại phần tiền lãi đã trả của 02 kỳ trước nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiên của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001597 ngày 26/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

Bị đơn phải chịu án phí là 343.500 (ba trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 307, 309, 310, 311, 312, 314, 316, 463, 465, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Trần N.

Buộc ông Vũ Thanh S (chủ Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Vân 2) có nghĩa vụ trả lại cho ông N số tiền là 6.870.000 (sáu triệu tám trăm bảy mươi nghìn) đồng (số tiền này xuất phát từ Hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản số 23/1281 ngày 10/10/2023).

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Trần N được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001597 ngày 26/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

Ông Vũ Thanh S phải chịu án phí là 343.500 (ba trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm) đồng.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích theo Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP.LX;
  • - Chi cục THADS TP.LX;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Phạm Xuân Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/DS – ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 185/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yc của NĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger