TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 185/2023/DS-PT Ngày 30-11-2023 V/v: tranh chấp quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hà Giang;
- Các Thẩm phán: ông Nguyễn Hải Vinh và bà Nguyễn Thị Hương Giang;
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2023/TLPT- DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp quyền sử dụng đất do bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS – ST ngày 27 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 182/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Đinh Thị T, sinh năm 1960 và ông Phạm Công H, sinh năm 1956, ông H do bà Đinh Thị T đại diện theo Giấy uỷ quyền ngày 17/10/2022 (có mặt).
- Đều có địa chỉ: thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang;
- Bị đơn: bà Thân Thị L, sinh năm 1974 (có mặt);
- Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1998 (vắng mặt);
- Chị Trần Thị N, sinh năm 1995 (vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1998 (vắng mặt);
- Anh Đ, chị N, chị Q đều do bà L đại diện theo ủy quyền (có mặt).
- Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1990 (vắng mặt);
- Chị Phạm Thị Anh Đ1, sinh năm 2000 (vắng mặt);
- Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1995 (vắng mặt);
- Anh T1, chị Đ1, chị T2 đều do bà T đại diện theo ủy quyền (có mặt).
- Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1966 (xin vắng mặt).
- Đều cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Người kháng cáo: nguyên đơn – bà Đinh Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 27/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn - bà Đinh Thị T, ông Phạm Công H thống nhất trình bày: năm 1993, gia đình ông bà được giao 02 lô đất lâm nghiệp là lô O1 và lô V1 tại thôn T, xã T, huyện S. Khi giao nhận đất có cán bộ Lâm nghiệp và ông Đinh Xuân L2 là trưởng thôn T giao cho bà T trực tiếp nhận đất tại thực địa. Ngày 31/01/1999, hộ gia đình bà được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) diện tích 32.000m² tại lô O1, V1 khoảnh 15 thuộc thôn T (nay là thôn T), xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Gia đình trồng keo từ năm 1997 nhưng chưa trồng hết diện tích được giao. Năm 2010, bà phát đồi để trồng nốt phần diện tích còn lại thì bà L đã trồng vào phần diện tích đất bà phát dọn tại lô O1. Bà đã yêu cầu bà L trả đất nhưng ông T3 (chồng bà L) xin bà để cho thu hoạch xong lứa keo sẽ trả, nhưng sau khi ông T3 chết, bà L tiếp tục sử dụng diện tích đất của bà mà không trả lại. Bà ước lượng diện tích bà L lấn chiếm của bà khoảng 5.748m². Nay bà yêu cầu bà Thân Thị L phải di rời cây trồng trên đất, trả bà 5.748m² tại lô O1 khoảnh 15, thôn T, xã T, huyện S. Trường hợp Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc kết quả lớn hơn hoặc nhỏ hơn thì theo kết quả xem xét, thẩm định của Tòa án.
Chứng cứ bà T đưa ra để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là GCNQSDĐ số P 087398 ngày 31/01/1999 mang tên hộ bà Đinh Thị T được quyền sử dụng diện tích 32.000m² tại lô O1, V1 khoảnh 15 tại thôn T (nay là thôn T), xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn - bà Thân Thị L trình bày: năm 1997 gia đình bà được giao quản lý đất lâm nghiệp và đã được cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp ngày 02/5/1997, diện tích 2,2ha cho hộ bà Trần Thị L3 (do chủ nhiệm hợp tác xã ghi nhầm tên bố chồng bà là Trần Văn L4, đã chết, mẹ chồng bà tên là Phạm Thị T4, sinh năm 1938 nhưng quen gọi theo tên chồng là bà L4 nên ghi trong sổ là Trần Thị L3). Gia đình bà sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp với ai. Bà T, ông H khởi kiện yêu cầu di rời cây trồng, trả đất bà không đồng ý.
Chứng cứ bà L đưa ra để phản đối yêu cầu khởi kiện của bà T là GCNQSDĐ lâm nghiệp giao ngày 02/5/1997(bút lục số 62,63,64) diện tích 2,2ha cấp cho hộ bà Trần Thị L3, bản gốc sổ ghi chép việc chia đất lâm nghệp do ông Đinh Xuân Long cung c.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Phạm Thị Anh Đ1 trình bày: diện tích đất tranh chấp giữa bà T và bà L được nhà nước giao từ năm 1993, chị không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến phần diện tích đất tranh chấp và tài sản trên đất. Chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Phạm Văn T1 trình bày: diện tích đất tranh chấp giữa bà T và bà L tại thời điểm cấp đất anh là thành viên trong hộ gia đình nhưng còn nhỏ, không biết đất được giao cụ thể như thế nào. Anh ủy quyền lại cho bà T đại diện, mọi ý kiến của bà T là ý kiến của anh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Trần Văn Đ trình bày: diện tích đất tranh chấp giữa bà T và bà L được nhà nước giao từ năm 1997, anh xác định không có quyền lợi liên quan đến phần đất tranh chấp trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Phạm Thị T2 trình bày: diện tích đất tranh chấp giữa bà T với bà L khi nhà nước giao đất chị chưa về làm dâu gia đình bà T nên không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến diện tích đất tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Phạm Thị L1 trình bày: gia đình bà được giao đất lâm nghiệp tại thôn T, xã T nhưng khi nhận đất chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ2 nhận trực tiếp (ông Đ2 đã chết năm 2021), bà đã được Tòa án thông báo diện tích đất tranh chấp giữa bà T và bà L là đất đã được giao cho gia đình bà nhưng bà không có yêu cầu gì, bà đề nghị xét xử vắng mặt.
Tòa án đã xác minh ông Đinh Xuân L2 là người trực tiếp tham gia giao đất lâm nghiệp cho bà T. Ông Long cung c: khi ông tham gia giao đất lâm nghiệp, bà T là người trực tiếp nhận đất tại thực địa nhưng diện tích đất bà T được giao tại khu D và khu L bà H1, bà T không được giao đất tại khu D.
Bà T yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đối chiếu với dữ liệu giao nhận, quản lý đất lâm nghiệp do Hạt kiểm lâm huyện S cung cấp xác định: diện tích đất tranh chấp là 1923m² thuộc lô C, khoảnh 15, khu D Buồm chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Văn Đ2 trên đất bà L đã trồng 692 cây keo đường kính gốc trung bình 03cm – 04cm.
Với nội dung trên, bản án dân sự số 28/2023/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã căn cứ khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của bà Đinh Thị T, ông Phạm Công H về việc buộc bà Thân Thị L phải di rời tài sản trên đất để trả lại cho bà T, ông H 1923m² đất tại lô O, khoảnh 15, thôn T, xã T, huyện S.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 11/9/2023, nguyên đơn – bà Đinh Thị T kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, buộc bà Thân Thị L trả lại bà 1923 m² diện tích đất tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Đinh Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tham gia phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng, đủ các quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bà Đinh Thị T, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 27/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt bà Phạm Thị L1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo. Bà L1 có lời khai xin vắng mặt tại tất cả các phiên tòa. HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung vụ án, HĐXX thấy: vợ chồng bà Đinh Thị T, ông Phạm Công H và bố mẹ chồng bà Thân Thị L đều được chia đất lâm nghiệp tại thôn T, xã T, cụ thể: bà T, ông H được chia diện tích 32.000m² là lô O1 và lô V1, khoảnh 15 khu D và khu Lương Chè bà H1 và ngày 31/01/1999 được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ tên hộ bà T. Bà L3 (mẹ chồng bà L) được giao 2,2ha tại lô P1, khoảnh 15, ngày 02/5/1997 được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ tên bà Trần Thị L3.
Năm 2010 hai bên tranh chấp, năm 2022, bà T khởi kiện yêu cầu bà L di rời cây trồng trả diện tích đất lấn chiếm là 5.748m² tại lô O1 khoảnh 15. Quá trình giải quyết vụ án bà T yêu cầu bà L phải trả bà diện tích 1923m² đất tại lô O1 khoảnh 15, thôn T, xã T theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án sơ thẩm.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của bà thoa, HĐXX thấy: căn cứ vào bản gốc sổ ghi chép việc giao nhận đất lâm nghiệp do ông Đinh Xuân Long cung c thì gia đình bà T, ông H được giao đất tại khu D và khu L bà H1. Bà T không được giao đất tại khu D, bà T được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất tại lô O1 và lô V1, khoảnh 15 và bà khởi kiện yêu cầu bà L trả diện tích đất lấn chiếm 1923m2 tại lô O1 khoảnh 15, thôn T, xã T (BL 126).
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đối chiếu với dữ liệu do Hạt kiểm lâm huyện S cung cấp thì xác định được diện tích đất tranh chấp giữa bà T và bà L có diện tích 1.923m² thuộc lô C, khoảnh 15 được giao cho chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn Đ2. Do vậy có căn cứ để xác định diện tích đất bà L đang sử dụng không thuộc lô O1 và lô V1, khoảnh 15 mà bà T, ông H được giao và đã được cấp GCNQSDĐ như bà T trình bày. Do vậy Bản án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, ông H là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm bà T không xuất trình được chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình. Vì vậy kháng cáo của bà T không được chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: bà T là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sư phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Xử: không chấp nhận kháng cáo của bà Đinh Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 27/8/2023 Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: bà Đinh Thị T được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 185/2023/DS-PT ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 185/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
