|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 185/2023/HS-ST Ngày: 26-10-2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Nguyễn Đức Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Đại diện VKSND huyện Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Văn L – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/10/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 167/2023/TLST-HS ngày 03/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2023/QĐXXST–HS ngày 12/10/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thân Trung H, sinh năm 1999; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thân Văn L1 và bà Thân Thị B; vợ, con: chưa có; tiền sự: không
Tiền án:
- + Tại bản án số 08/2017/HSST ngày 17/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; tài sản trộm cắp có tổng giá trị 17.870.000 đồng, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2017, đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 17/5/2017.
- + Tại bản án số 53/2018/HSST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; tài sản trộm cắp có giá trị 8.000.000 đồng; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/01/2019.
- + Tại bản án số 65/2019/HSST ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; tài sản trộm cắp có giá trị 4.350.000 đồng; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/12/2019.
- + Tại bản án số 94/2020/HSST ngày 24/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; tài sản trộm cắp có trị giá 8.400.000 đồng; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2023, chấp hành xong phần án phí ngày 19/11/2020, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự cho người bị hại.
- Nhân thân: Ngày 30/5/2015 bị Công an xã H (nay là thị trấn N), huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Chùa, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang - Chị Triệu Thị V1, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang
- Người làm chứng:
- Anh Hoàng Minh T, sinh năm 2000 (vắng mặt)
- Ông Lê Văn T1, sinh năm 1968 (có mặt)
- Anh Thân Văn T2, sinh năm 1971 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thân Trung H- sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang là người có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên trong ngày 25/5/2023 và ngày 18/6/2023, Thân Trung H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, có tổng giá trị là 37.150.000 đồng trên địa bàn huyện V, tỉnh Bắc Giang; cụ thể như sau:
* Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/5/2023, Thân Trung H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, không rõ biển kiểm soát đi đến đường dân sinh thuộc thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang để tìm tài sản trộm cắp. Tại đây, H phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe RSX, biển kiểm soát 98B2-756.25 của bà Nguyễn Thị V- sinh năm 1968, trú tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang đang dựng tại rìa đường dân sinh, không có người trông coi nên H dừng xe, đi đến gần chiếc xe mô tô 98B2- 756.25 của bà V rồi dùng cả hai tay bậy, cậy yên xe lên tạo thành khe hở. Sau đó, H luồn tay phải vào bên trong cốp xe phía dưới yên xe tìm tài sản để trộm cắp thì lấy được 01 chiếc ví vải thổ cẩm rồi cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô đi ra khu vực chân
cầu vượt thuộc Khu công nghiệp V cạnh đường C- Lạng Sơn. Tại đây, H bỏ chiếc ví thổ cẩm ra kiểm tra bên trong có 34.500.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân (gồm: căn cước công dân, giấy phép lái xe và đăng ký xe mô tô đều mang tên chị Nguyễn Thị V). H lấy toàn bộ số tiền 34.500.000 đồng cất giấy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và vứt lại chiếc ví cùng giấy tờ cá nhân của chị V vào rìa đường lối đi lên cầu vượt đi bộ rìa đường gom dân sinh đường cao tốc Hà Nội- Lạng Sơn. Số tiền chiếm đoạt được H đã tiêu sài cá nhân hết.
Quá trình H vứt chiếc ví, các giấy tờ cá nhân của bà V tại khu vực rìa đường lối đi lên cầu vượt đi bộ đường gom dân sinh đường cao tốc Hà Nội- Lạng Sơn thì bị anh Thân Văn T2- sinh năm 1971, trú tại thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang làm nghề lái xe ôm đứng gần đó nhìn thấy nên anh T2 đã đi đến vị trí H vứt và nhặt lại chiếc ví. Sau đó, anh T2 có bỏ chiếc ví thổ cẩm ra kiểm tra thì phát hiện bên trong ví có một số giấy tờ cá nhân của bà Nguyễn Thị V trú tại thôn C, xã T, huyện V nên anh T2 đã đưa lại chiếc ví, các giấy tờ cá nhân của chị V cho ông Lê Văn T1- sinh năm 1968, trú tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang làm nghề lái xe ôm cùng với ông để trả lại cho bà V.
Ngày 18/6/2023, bà Nguyễn Thị V làm đơn trình báo đến Công an xã T, huyện V trình báo sự việc. Cùng ngày, Công an xã T, huyện V bàn giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V để tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐGTS ngày 21/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụn hình sự huyện V kết luận: 01 chiếc ví vải thổ cẩm gồm 02 ngăn có quai đeo dài 20cm, rộng 14cm có trị giá 10.000 đồng.
Ngày 22/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Thân Trung H xác định vị trí trộm cắp chiếc ví vải thổ cẩm bên trong có 34.500.000 đồng của bà V. Kết quả bị cáo H xác định vị trí được vị trí cậy cốp xe, trộm cắp tài sản của bà viên Viên tại rìa đường dân sinh thuộc thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Cùng ngày 22/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho bị cáo H thực nghiệm điều tra diễn lại hành vi H cậy cốp xe, thò tay vào lấy chiếc ví trong cốp xe của chị V. Kết quả bị cáo H thực hiện được các động tác, tư thế, diễn biến hành vi phù hợp với lời khai người bị hại.
Ngày 22/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho bị cáo Thân Trung H và anh Thân Văn T2 xác định vị trí bị cáo H vứt lại chiếc ví vải thổ cẩm và giấy tờ cá nhân của chị V sau khi chiếm đoạt tài sản. Kết quả bị cáo H và anh T2 xác định vị trí H vứt lại chiếc ví vải thổ cẩm bên trong có một số giấy tờ tùy thân của chị V tại khu vực chân cầu vượt thuộc Khu công nghiệp V cạnh đường C- Lạng Sơn.
Cùng ngày 22/6/2023, Cơ quan điều tra cho anh Thân Văn T2 nhận dạng đối với Thân Trung H. Kết quả anh T2 nhận ra H chính là người vứt chiếc ví thổ cẩm bên trong có giấy tờ cá nhân của chị V tại khu vực chân cầu vượt Khu Công nghiệp V vào ngày 28/5/2023.
* Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 30 ngày 18/6/2023, H mang theo 02 đoạn kim loại hình lục giác, một mình đi bộ đến khu nhà trọ của ông Nguyễn Đình Đ- sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang để tìm tài sản trộm cắp; quan sát thấy không có người nên H đi lên tầng 2, lần lượt dùng 02 thanh kim loại hình lục giác cậy phá cửa tại các phòng trọ số A, 12, 14 làm tuột chốt khóa cửa sau đó đi vào bên trong tìm tài sản nhưng không lấy được tài sản gì do các phòng này trống chưa có người thuê. H đi xuống tầng 1 khu nhà trọ và dùng 02 thanh kim loại mang theo cậy làm bật then cài phòng trọ số 01 của chị Triệu Thị V1- sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái là công nhân đang thuê trọ tại khu nhà trọ của ông Đ. H đi vào bên trong tìm tài sản, phát hiện trên nóc tủ lạnh trong phòng trọ có 40.000 đồng (gồm: 04 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng), H lấy 04 tờ tiền cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và tiếp tục tìm tài sản, phát hiện tại đầu giường trong phòng của chị V1 có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi, loại K30i 5G màu trắng dung lượng 128 GB và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen ram 3G, dung lượng 32GB trên thành cửa sổ trong phòng của chị V1; H trộm cắp được 02 chiếc điện thoại này trong phòng của chị V1, H định rời đi thì chị V1 và anh Hoàng Minh T- sinh năm 2000, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đi về phòng trọ, phát hiện H đang đứng ở trong phòng của chị V1. Khi H thấy chị V1 và anh T nên H đã sợ hãi và vứt 02 chiếc điện thoại lấy được của chị V1 xuống mép cánh cửa trong phòng thì bị chị V1 cùng mọi phát hiện bắt giữ, thông báo Công an thị trấn Nếnh đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trân Trung H1; quá trình bắt quả tang thu giữ tại túi quần phía sau bên trái của H1 đang mặc số tiền 40.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng); thu giữ tại túi quần phía trước bên trái H1 đang mặc 02 thanh kim loại có đặc điểm: 01 thanh kim loại màu sáng hình trụ có 06 cạnh, có 01 đầu tròn kích thước (16,5x1)cm trên thanh kim loại có chữ CR-V10mm; 01 thanh kim loại màu sáng có hình chữ (L) có 06 cạnh, có 01 đầu tròn, chiều dài 22cm trên thanh kim loại có chữ CR-V10mm; thu giữ tại nền nhà trong phòng trọ gần cửa ra vào 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Xiaomi Redmi, loại K30i 5G màu trắng dung lượng 128 GB và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen ram 3G, dung lượng 32GB.
Cùng ngày 18/6/2023, Công an thị trấn N, huyện V tiến hành cho Thân Trung H xác định tài sản H trộm cắp tại khu nhà trọ của ông Nguyễn Đình Đ. Kết quả H xác định số tài sản trên H lấy tại phòng trọ số 01 tại tầng 1 của chị Triệu Thị V1- sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái là công nhân đang thuê trọ tại nhà ông Đ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Xiaomi Redmi, loại K30i 5G màu trắng dung lượng 32GB ở trên giường; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen ram 3G, dung lượng 32GB ở trên thành cửa sổ và số tiền 40.000 đồng ở trên nóc tủ lạnh trong phòng trọ của chị V1.
Ngày 18/6/2023, chị Triệu Thị V1 làm đơn trình báo đến Công an thị trấn N, huyện V; Cùng ngày, Công an thị trấn N, huyện V tiến hành bàn giao hồ sơ, đối
tượng Thân Trung H cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 18/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định. Kết quả khám nghiệm hiện trường H xác định được các vị trí H lấy số tiền 40.000 đồng trên nóc tủ lạnh, lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi, loại K30i 5G màu trắng dung lượng 32GB ở đầu giường và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen ram 3G, dung lượng 32GB trên thành cửa sổ; Vị trí H vứt 02 chiếc điện thoại sau khi trộm cắp được tại sát mép tường cạnh cửa ra vào trong phòng của chị V1 phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐGTS ngày 21/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụn hình sự huyện V kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi, loại K30i 5G màu trắng, dung lượng 128 GB, có trị giá 1.450.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen ram 3G, dung lượng 32GB, có trị giá 1.150.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 03/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố Thân Trung Trung ra trước Toà án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Thân Trung H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại bà Nguyễn Thị V trình bày: ngày 25/5/2023 bà bị bị cáo H trộm cắp số tiền 34.500.000 đồng bà để trong chiếc ví thổ cẩm và để ở cốp xe máy, bị cáo đã cạy cốp xe máy và lấy chiếc ví cùng số tiền 34.500.000 đồng. Đến nay bà đã nhận lại được chiếc ví, số tiền 34.500.000 đồng bị cáo chưa trả lại bà, bà đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo H phải bồi thường lại cho bà số tiền 34.500.000 đồng
Người làm chứng ông Lê Văn T1 trình bày: Ngày 25/5/2023 ông được anh Thân Văn T2 đưa cho một chiếc ví thổ cẩm, sau khi kiểm tra giấy tờ bên trong ông biết được chiếc ví này là của bà V, ông đã mang trả lại cho bà V chiếc ví và cùng bà V đi rà camera và phát hiện ra bị cáo H là người đã lấy chiếc ví và số tiền trong ví của bà V.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Thân Trung H từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/6/2023.
- Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại màu sáng hình trụ có 06 cạnh, có 01 đầu tròn kích thước (16,5x1)cm trên thanh kim loại có chữ CR-V10mm; 01 thanh kim loại màu sáng có hình chữ (L) có 06 cạnh, có 01 đầu tròn, chiều dài 22cm trên thanh kim loại có chữ CR-V10mm.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc Thân Trung H phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị V số tiền 34.500.000 đồng.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.725.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận
- Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
- [2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
- [3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Thân Trung H là người đã có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Do không
- có tiền chi tiêu cá nhân nên trong ngày 25/5/2023 và ngày 18/6/2023, Thân Trung H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, có tổng giá trị là 37.150.000 đồng trên địa bàn huyện V, cụ thể:
- - Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/5/2023, tại khu vực đường dân sinh thuộc thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Thân Trung H có hành vi trộm cắp tài sản có tổng giá trị 34.510.000 đồng, bao gồm: 01 chiếc ví bằng vải thổ cẩm gồm 02 ngăn có quai đeo dài 20cm, rộng 14cm, có giá trị 10.000 đồng và số tiền 34.500.000 đồng của bà Nguyễn Thị V- sinh năm 1968, trú tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
- - Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 30 ngày 18/6/2023, tại phòng trọ số A, tầng 1, Khu nhà trọ của ông Nguyễn Đình Đ- sinh năm 1976 ở tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Thân Trung H đã có hành vi trộm cắp tài sản có tổng giá trị 3.640.000 đồng, bao gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi, loại K30i 5G màu trắng, dung lượng 128 GB, có trị giá 1.450.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen ram 3G, dung lượng 32GB, có giá trị 1.150.000 đồng và số tiền 40.000 đồng của chị Triệu Thị V1- sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái.
- [4] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, có 04 tiền án chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của các bị hại lén lút trộm cắp tài sản có giá trị 37.150.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo Thân Trung H đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Do vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS là hoàn toàn có căn cứ.
- [5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- [6] Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo có 04 tiền án, chưa được xóa án tích.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thân Trung H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [7] Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị cáo bị Tòa án đưa ra xét xử về hình sự, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị
- cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
- Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- [8] Về xử lý vật chứng: Đối với 40.000 đồng (gồm: 04 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi, loại K30i 5G màu trắng, dung lượng 128 GB; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi, màu đen ram 3G, dung lượng 32GB thu giữ khi bắt quả tang; quá trình điều tra xác định số tài sản trên là của chị Triệu Thị V1. Ngày 23/6/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chị V1. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 thanh kim loại màu sáng hình trụ có 06 cạnh, có 01 đầu tròn kích thước (16,5x1)cm trên thanh kim loại có chữ CR-V10mm; 01 thanh kim loại màu sáng có hình chữ (L) có 06 cạnh, có 01 đầu tròn, chiều dài 22cm trên thanh kim loại có chữ CR-V10mm bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- [9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra chị Triệu Thị V1 đã được nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét; bà Nguyễn Thị V yêu cầu bị cáo Thân Trung H phải bồi thường cho bà số tiền 34.500.000 đồng. Đến nay bị cáo H chưa bồi thường cho bà V, do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bà V số tiền trên.
- [10] Bị cáo hiện đang tạm giam để đảm bảo việc thi hành án, cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo Điều 329 BLTTHS.
- [11] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là có căn cứ.
- Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Thân Trung H 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Thân Trung H phải bồi thường bà Nguyễn Thị V số tiền 34.500.000 đồng (Ba tư triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại màu sáng hình trụ có 06 cạnh, có 01 đầu tròn kích thước (16,5x1)cm trên thanh kim loại có chữ CR-V10mm; 01 thanh kim loại màu sáng có hình chữ (L) có 06 cạnh, có 01 đầu tròn, chiều dài 22cm trên thanh kim loại có chữ CR-V10mm.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136, Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.725.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015
Báo cho bị cáo, bị hại có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Tuyết |
Bản án số 185/2023/HS-ST ngày 26/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 185/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thân Trung H phạm tội Trộm cắp tài sản
