Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23-7-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Trọng Tuấn

Ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: Thôn A, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh KIM MINSU; nơi cư trú: 119 B-ri, Wonsam-myeon, C-gu, Y-ri, G-do, Hàn Quốc; vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Vũ Thị T trình bày:

Chị Vũ Thị T và anh Kim M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/3/2024. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống hạnh phúc một thời gian ngắn tại Việt Nam, sau đó anh Kim M về Hàn Quốc sinh sống và làm thủ tục bảo lãnh cho chị T sang Hàn Quốc. Thời gian xa nhau vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thời gian vợ chồng quyết định kết hôn quá vội vàng, chênh lệch tuổi tác quá lớn, bất đồng ngôn ngữ, khoảng cách địa lý xa xôi nên không còn tình cảm và cũng không còn muốn đoàn tụ vợ chồng. Nhận thấy vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Kim M.

Về con chung: Chị T và anh Kim M không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Vũ Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các bản tự khai đã được hợp pháp hóa lánh sự, bị đơn là anh Kim M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Vũ Thị T về việc kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, anh Kim M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên anh Kim M đề nghị Tòa án nhân dân thành phô Hải Phòng giải quyết cho tôi được ly hôn với chi Vũ Thị T.

Về con chung: Anh Kim M và chị T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Kim M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Kim M. Nguyên đơn là chị Vũ Thị T có nơi cư trú tại Hải Phòng, bị đơn là anh Kim M hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Do vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn”. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Vũ Thị T và anh Kim M vắng mặt, có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh Kim M.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Kim M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/3/2024. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian ngắn, chị T và anh Kim M phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng về ngôn ngữ, chênh lệch tuổi tác quá lớn, vợ chồng mỗi người ở một nơi nên tình cảm ngày càng phai nhạt. Nay cả hai anh chị đều xác định không còn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị T về việc xin ly hôn với anh Kim M.

[4] Về con chung: Chị Vũ Thị T và anh Kim M cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Vũ Thị T và anh Kim M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị T và anh Kim M được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T được ly hôn anh Kim M.
    2. Về con chung: Chị Vũ Thị T và anh Kim M cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
    3. Về tài sản chung: Chị Vũ Thị T và anh Kim M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000437 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Chị Vũ Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.

    Anh Kim M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 185/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger