TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 185/2023/HSST Ngày 21/12/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Thông;
2. Ông Nguyễn Thế Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 199/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:
1/ Bùi Anh Q, Sinh năm 1998; Tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Số B đường Q, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Bùi P, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; Có vợ Đỗ Thị Hải H (không đăng ký kết hôn) và có 01 người con sinh năm 2023; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 03/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 26/2020/QĐ. Chấp hành xong ngày 28/01/2022.
Nhân Thân:
+ Ngày 14/5/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Theo bản án số: 30/2015/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 01/02/2016.
+ Ngày 23/9/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, theo Quyết định số 46/2016/QĐ-TA. Chấp hành xong vào ngày 07/12/2017.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2023 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt.
2/ Đỗ Thị Hải H, Sinh năm 1995; Tại Bình Phước; Nơi cư trú: Thôn A, xã L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện nay: Ấp A, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Đỗ Văn H1, sinh năm 1954 và bà Dương Thị N, Sinh năm 1955; Có chồng Bùi Anh Q, sinh năm 1998 (không đăng ký kết hôn) và có 01 người con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/5/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Cháu Võ Quốc H2, sinh năm 2007. Địa chỉ: Số F, P, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Anh Võ Trần Vũ K, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số F, P, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nìm Chí P1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Anh Q và Đỗ Thị Hải H có mối quan hệ tình cảm, chung sống với nhau như vợ chồng. Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 22/4/2023, Đỗ Thị Hải H điều khiểu xe mô tô biển số 60M6-0198 chở theo Bùi Anh Q lưu thông trên đường C thuộc khu phố D, phường X, thành phố L thì thấy cháu Võ Quốc H2, sinh ngày 07/2/2007, ngụ tại khu phố D, phường X, thành phố L đang cầm 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note màu đen trên tay nên Q nảy sinh ý định cướp giật tài sản. Q nói với H chạy xe gần lại chỗ cháu H2 đang đứng để Q giật điện thoại bán lấy tiền tiêu xài, H đồng ý chạy xe sát chỗ cháu H2 đang đứng, Q ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động của cháu H2 đang cầm trên tay rồi cả hai điều khiển xe bỏ chạy. Lúc này cháu H2 tri hô, đuổi theo nên được quần chúng nhân dân chặn xe của H và Q, do hoảng sợ nên H bị ngã xe xuống đường và bị người dân bắt giữ, Q rút con dao mang theo trong người ra đe dọa đâm nếu ai cản đường và chạy thoát, bỏ lại điện thoại di động cướp được tại hiện trường.
Đến sáng ngày 23/4/2023, Q đến Công an phường X đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Q và H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 58/HĐĐGTSTTTHS ngày 25/4/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận:
Một điện thoại di động hiệu Redmi Note, màu đen, điện thoại đã qua sử dụng thời điểm ngày 23/4/2023 có giá trị là 2.600.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng 181/CT-VKS-LK ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố các bị cáo Bùi Anh Q và Đỗ Thị Hải H về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo Bùi Anh Q và Đỗ Thị Hải H về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015; Xử phạt: Bị cáo Bùi Anh Q từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015; Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị Hải H từ 02 năm đến 03 năm tù
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số: 60M6-0198, hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, nên tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: các Bị cáo rất ăn năn hối hận việc mình đã làm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 22/4/2023, Đỗ Thị Hải H điều khiển xe mô tô biển số 60M6-0198 chở theo Bùi Anh Q lưu thông trên đường C thuộc khu phố D, phường X, thành phố L. Q nói H chạy xe lại gần chỗ cháu Võ Quốc H2 đang cầm điện thoại trên tay, Q dùng tay phải giật điện thoại của H2 và nói với H điều khiển xe bỏ chạy. H2 tri hô, mọi người đuổi theo chặn xe của H và Q. H bị bắt quả tang, riêng Q chạy thoát. Đến sáng ngày 23/4/2023, Q đến Công an phường X đầu thú.
Do đó, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Bùi Anh Q và Đỗ Thị Hải H phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Q là người chủ mưu, trực tiếp thực hiện tội phạm. Bản thân Q đã có 01 tiền sự, có nhân thân xấu về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng không tu dưỡng và rèn luyện lại tiếp tục rủ rê, lôi kéo bị cáo H với vai trò là người giúp sức tích cực cùng thực hiện tội phạm. Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, rất táo bạo, dùng xe gắn máy là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện phạm tội, tiềm ẩn nguy cơ có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại và người tham gia giao thông, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự, trị an tại địa phương. Các bị cáo đủ khả năng nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, nên các bị cáo cố tình thực hiện tội phạm, chứng tỏ các bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Do đó, xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đối với bị cáo Q được áp dụng thêm tình tiết đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự và bị cáo H khi phạm tội bị cáo đang mang thai, nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm n khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Do bị cáo H có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần áp dụng Điều 54- Bộ luật hình sự, cho bị cáo H được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô biển số: 60M6- 0198 mà bị cáo Q và H sử dụng để đi cướp giật tài sản, hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau là phù hợp.
[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp phần nhiều với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Anh Q và Đỗ Thị Hải H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Bùi Anh Q 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2013.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị Hải H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án..
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô biển số: 60M6- 0198 mà bị cáo Q và H sử dụng để đi cướp giật tài sản giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau.
3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Anh Kiệt |
Bản án số 185/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 185/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
