Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2023/HS-PT

Ngày 21-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Quân Vương;
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Sang.
Ông Hoang Huy Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 21 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 206/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Hoàng T. Do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo bị kháng cáo: Hoàng T, sinh ngày 03/4/1997 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Số D đường H, tổ A, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Thanh H và bà Ngô Thị Thủy T1; bị cáo có vợ tên Huỳnh Kim N, chưa có con; tiền án; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo: Bà Lê Ngọc C, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Số E đường H, tổ A, Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Lê Ngọc C: Bà Lê Thị Mỹ H1, Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Võ Tấn Đ chi nhánh thành phố T, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trong vụ án còn có 03 người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 06 giờ 30 phút, ngày 08/11/2018, Hoàng T điều khiển ô tô biển số 61A-228.95 lưu thông trên đường H hướng từ Trung tâm hành chính tỉnh B về ngã 4 giao nhau giữa đường H và đường P. Khi đang lưu thông trên đường H đến đoạn đường thuộc khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì có ông Lê Khắc H2 điều khiển xe đạp thể thao lưu thông trên làn đường bên phải cùng chiều với xe của T chuyển làn cho xe rẽ về bên trái (theo hướng lưu thông của mình) sang làn đường xe ô tô con Hoàng Tâm đang lưu thông phía sau để sang đường. Do T thiếu chú ý quan sát, đi nhanh không giảm tốc độ ở khu vực giao nhau nên đầu xe ô tô biển số 61A-228.95 của T va chạm vào bánh sau bên trái của xe đạp dẫn đến tai nạn giao thông. Sau khi va chạm xe ô tô đẩy xe đạp văng sát mép điểm giao nhau để lại vết cày dài 19,30m. Đẩy ông H2 văng năm cuối vết cày của xe đạp. Sau đó, ông H2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B nhưng do vết thương nặng đã tử vong cùng ngày.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ở phần đường bên phải đường H theo hướng xe ô tô và xe đạp lưu thông, mặt đường trải nhựa bằng phẳng và có 05 làn xe đi; làn xe mô tô rộng 4m20; làn xe buýt rộng 4m00; làn xe ô tô tải rộng 4m00; làn xe ô tô con rộng 3m90; làn xe rẽ trái rộng 3m00. Khu vực này có vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường. Lấy trụ điện số 125 làm điểm cố định và mép đường bên phải theo hướng đi từ Trung tâm hành chính tỉnh B về ngã tư giao nhau giữa đường H và đường P để đo toàn bộ hiện trường vụ tai nạn.

Xe đạp sau tai nạn ngã nghiêng qua bên phải, trục bánh trước cách mép lề phải 18m20 và cách trụ điện số 125 là 2m50, trục bánh sau cách mép lề phải 17m20. Xe đạp ngã để lại vết cày dài 19m30, đầu vết cày cách mép lề phải 14m60, cuối vết cày nằm trùng ngay vị trí tay cầm bên trái nơi xe ngã.

Xe ô tô biển số 61A-228.95 sau tai nạn đỗ tại hiện trường, trục bánh trước bên phải cách mép lề phải 13m70; trục bánh sau bên phải cách mép lề phải 13m60; trục bánh trước bên trái cách trục bánh sau xe đạp 9m30. Hiện trường để lại vết sơn của xe ô tô biển số 61A-228.95, vị trí vết sơn ở phía sau xe ô tô đỗ và có kích thước 40x12cm, tâm vết sơn cách mép lề phải 14m60, cách dấu vết cày xe đạp 5m00 và cách trục bánh sau bên phải xe ô tô 12m50.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Khám nghiệm xe đạp: Cụm tay cầm bên trái bị mài mòn do ngã. Gấp bánh sau bị va chạm cong từ trái qua phải. Niềng bánh sau bị va chạm cong từ trái qua phải. Đầu bàn đạp bên trái bị mài mòn kim loại.

Khám nghiệm xe ô tô biển số 61A-228.95: Nắp ca pô bị va chạm cong thụng kim loại trên diện rộng. Két nước bị va chạm trầy xước, cong kim loại. Ốp cao su đèn cản trước bên trái bị va chạm gãy chốt rớt rời ra ngoài. Cản trước bị va chạm trầy xước sơn trên diện rộng, dấu bể cao su kích thước 6x3cm, vị trí này cách mặt đất 46cm. Biển số xe phía trước bị va chạm cong kim loại.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 957/2018/GĐPY ngày 09/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Lê Khắc H2 do đa chấn thương, gây nhiều xương sườn, dập rách 02 phổi, rốn phôi, vỡ gan, dập thận....

Về vật chứng trong vụ án: Xe ô tô biển số 61A-228.95, quá trình điều tra xác định xe trên là của Công ty TNHH N1 nên đã trả lại cho Công ty TNHH N1. Xe đạp đã trả lại cho bà Nguyễn Thị C1 (đại diện hợp pháp của bị hại H2).

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu Hoàng T bồi thường tiền viện phí, chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 677.294.200 đồng. Hiện Hoàng T đã nộp số tiền 250.000.000 đồng để khắc phục hậu quả đến Cơ quan Thi hành án dân sự.

Cáo trạng số 82/CT-VKSBD-P1 ngày 01/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hoàng T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2023/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hoàng T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (15/8/2023).

    Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Áp dụng khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 41/2023/LCĐKNCT-TA ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 584, Điều 585, Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Hoàng T có nghĩa vụ bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Khắc H2 số tiền 273.540.000đ (hai trăm bảy mươi ba triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).

    Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) theo Ủy nhiệm chi ngày 11/8/2023 và số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) theo biên lai

nộp tiền số AA/2021/0000680 ngày 11/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T để đảm bảo thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 23/8/2023, đại diện hợp pháp bị hại bà Lê Ngọc C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường thiệt hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với bị cáo Hoàng T là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện hợp pháp bị hại bà Lê Ngọc C kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt và tăng mức bồi thường thiệt hại, xét đại diện hợp pháp bị hại kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết gì mới, bị hại cũng có lỗi chuyển làn không đảm bảo an toàn, hình phạt và mức bồi thường thiệt hại cấp sơ thẩm đã xem xét và quyết định là có căn cứ, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại, giữ nguyên án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, tại bản luận cứ trình bày: cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo là không tương xứng, mức bồi thường không thỏa đáng, đề nghị xem xét chấp nhận toàn bộ kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại Lê Ngọc C được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi vi phạm thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 08/11/2018, Hoàng T điều khiển ô tô biển số 61A-228.95 lưu thông trên đường H hướng từ Trung tâm Hành Chính tỉnh B về ngã tư giao nhau giữa đường H và đường P. Khi lưu thông đến đoạn đường thuộc khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến gần điểm giao nhau thì xe ô tô do T điều khiển va chạm vào phía sau xe đạp của ông Lê Khắc H2 đang rẽ trái trên làn ô tô cùng chiều phía trước dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả ông Lê Khắc H2 tử vong.

[2.1] Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ở phần đường bên phải đường H theo hướng xe ô tô và xe đạp lưu thông, mặt đường trải nhựa bằng phẳng và có 05 làn xe đi; làn xe mô tô rộng 4m20; làn xe buýt rộng 4m00; làn xe ô tô tải rộng 4m00; làn xe ô tô con rộng 3m90; làn xe rẽ trái rộng 3m00. Khu vực này có vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường. Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông lập lúc 06 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (BL số 03) thể hiện xe đạp sau tai nạn ngã nghiêng qua bên phải, trục bánh trước cách mép lề phải 18m20 và cách trụ điện số 125 là 2m50, trục bánh sau cách mép lề phải 17m20. Xe đạp ngã để lại vết cày dài 19m30, đầu vết cày cách mép lề phải 14m60, cuối vết cày nằm trùng ngay vị trí tay cầm bên trái nơi xe ngã. Xe ô tô biển số 61A-228.95 sau tai nạn đỗ tại hiện trường, trục bánh trước bên phải cách mép lề phải 13m70; trục bánh sau bên phải cách mép lề phải 13m60; trục bánh trước bên trái cách trục bánh sau xe đạp 9m30. Hiện trường để lại vết sơn của xe ô tô biển số 61A-228.95, vị trí vết sơn ở phía sau xe ô tô đỗ và có kích thước 40x12cm, tâm vết sơn cách mép lề phải 14m60, cách đấu vết cày xe đạp 5m00 và cách trục bánh sau bên phải xe ô tô 12m50. Bản ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông (BL số 84-89) thể hiện điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 61A-228.95 và xe đạp chiếu trên mặt đường thuộc làn đường dành cho xe ô tô, sát làn đường dành cho xe rẽ trái của đường H, trước đầu vết cày của xe đạp phù hợp với Kết luận giám định số 65/GĐCH-PC09 Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B. Đoạn đường xảy ra tai nạn được phân chia làn đường giữa làn rẽ trái, làn xe ô tô, làn xe buýt và làn xe máy, xe đạp là vạch kẻ liền, phù hợp với Công văn số 2253/SGTVT-QLGT ngày 22/6/2021 Sở GTVT tỉnh B cung cấp thông tin về vạch phân chia làn đường và xác định đối với vạch sơn màu trắng nét đứt, trong điều kiện cho phép thì xe được đè lên vạch; đối với vạch sơn màu trắng nét liền, xe không được lấn làn và đè lên vạch. Công văn số 3830/SGTVT-QLGT ngày 18/10/2019 Sở Giao thông vận tải tỉnh B phúc đáp đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an T2 về đặt biển báo giao thông đường bộ (BL 102) xác định tuyến đường từ T đến P của đường vào Trung tâm hành chính, chính trị tỉnh Bình Dương không có lắp đặt biển báo hiệu giao thông quy định tốc độ. Để xác định tốc độ lưu thông của phương tiện, Sở G đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thủ Dầu Một căn cứ Chương II Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ G. Đối chiếu với Điều 7 của Thông tư nêu trên quy định về tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới trên đường bộ (trừ đường cao tốc) ngoài khu vực đông dân cư thì đường đôi (có dảy phân cách giữa); đường một chiều có từ 02 làn xe cơ giới trở lên tốc độ tối đa của xe ô tô con, ô tô chở người đến 30 chỗ (trừ xe buýt) ô tô tải có trọng tại đến 3,5 tấn là 90 Km/h.

[2.2] Kết luận giám định số 65/GĐCH-PC09 Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B kết luận tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát 61A-228.95 vượt khả năng giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự, đề nghị trưng cầu giám định tại Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.

[2.3] Kết luận giám định số 5115/KL-KTHS ngày 09/11/2022 Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: không đủ cơ sở kết luận:

  • - Tốc độ của xe ô tô trong vụ tai nạn giao thông.
  • - Trước khi 02 phương tiện va chạm nhau, xe ô tô có giảm tốc độ (phanh) hay không.

[2.4] Bản án sơ thẩm xác định bị cáo T khi điều khiển xe đến gần điểm giao nhau không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát để xe ô tô va chạm vào phía sau xe đạp của ông Lê Khắc H2 đang rẽ trái trên làn ô tô cùng chiều phía trước dẫn đến tai nạn giao thông, hành vi mà bị cáo thực hiện đã vi phạm khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ, tại khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Tuy nhiên chưa đủ căn cứ xác định khi xảy ra tai nạn bị cáo điều khiển xe ô tô tốc độ là bao nhiêu để xác định bị cáo vi phạm tại khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, bị hại chuyển làn đường không đảm bảo an toàn, chuyển làn đường tại nơi không được phép chuyển làn (vạch kẻ phân chia làn đường là vạch sơn trắng nét liền). Đối chiếu với Điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì bị cáo T không vi phạm tốc độ. Do đó, chưa đủ căn cứ xác định bị cáo Hoàng T vi phạm khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự nên cần hủy án sơ thẩm để điều tra lại. Ngoài ra xe ô tô biển số 61A-228.95 thuộc sở hữu của Công ty trách nhiệm hữu hạn N1, cấp sơ thẩm xác định Công ty trách nhiệm hữu hạn N1 do bà Hoàng Thị Mai H3 (là người đại diện hợp pháp) là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chưa phù hợp bởi khi bà H3 giao xe cho bị cáo mượn, giữa hai bên không có hợp đồng, không thỏa thuận việc xảy ra tai nạn ai phải có trách nhiệm bồi thường nên khi bị cáo gây tai nạn theo quy định chủ sơ hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải có trách nhiệm bồi thường trước. Do đó, Công ty Trách nhiệm hữu hạn N1 tham gia tố tụng với tư cách bị đơn dân sự mới phù hợp.

[3] Do hủy án sơ thẩm nên không xem xét kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại Lê Ngọc C.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện hợp pháp bị hại đề nghị chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại là chưa phù hợp, không có căn cứ chấp nhận.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: do Bản án sơ thẩm bị hủy nên bị cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

  1. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2023/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  2. Giao hồ sơ lại cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương để điều tra lại theo quy định pháp luật.
  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Hoàng T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương (2);
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ, tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP (4), hồ sơ vụ án, PHT, 15.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quân Vương

THẨM PHÁN THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2023/HS-PT ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 185/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger