Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 6 - 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    • Ông Trịnh Văn Bé;
    • Ông Lê Đức Thụy.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương D, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Bị đơn: Ông Phan Thành P, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương D trình bày, sau thời gian quen biết và tìm hiểu, bà D và ông P chung sống với nhau vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, bà D và ông P có sinh 01 con chung tên Phan Hữu P1, sinh ngày 05/02/2016, hiện con chung đang sống cùng bà D; không có tài sản chung, nợ chung.

C sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà D và ông P thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống và không còn sống chung từ thời gian đó cho đến nay.

Do tình cảm không còn nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông P; yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy khai sinh của Phan Hữu P1, sinh ngày 05/02/2016.

Theo tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Phan Thành P trình bày, sau thời gian quen biết và tìm hiểu, ông P và bà D kết hôn năm 2015, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống có sinh được 01 con chung tên Phan Hữu P1, sinh ngày 05/02/2016, hiện con chung đang sống cùng bà D; không có tài sản chung, nợ chung.

Ông P và bà D sống chung hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không còn sống chung cho đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên ông P đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà D; đồng ý để bà D được tiếp tục nuôi con chung, ông P không cấp dưỡng nuôi con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tại phiên tòa:

  • - Trong quá trình giải quyết vụ án bà D, ông P có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và có ý kiến như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình.
  • - Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
  • Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương D và ông Phan Thành P quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn không thể giải quyết, do không thể hàn gắn được nên ly thân. Nay, yêu cầu ly hôn với ông P.

Xét thấy, theo Công văn số 527/UBND-HT ngày 09/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã M và tại biên bản xác minh ngày 28/5/2024 Ủy ban nhân dân xã H cung cấp thông tin, xác định không tìm thấy thông tin kết hôn giữa bà D và ông P nên có cơ sở xác định bà D và ông P chung sống nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định nên căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, không công nhận bà D và ông P là vợ chồng.

  • - Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Hữu P1, sinh ngày 05/02/2016, hiện con chung sống với bà D. Xét thấy, bà D, ông P thống nhất để con chung cho bà D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con. Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho bà D chăm sóc, nuôi dưỡng. Do bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 14, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị: Không công nhận bà Nguyễn Thị Phương D và ông Phan Thành P là vợ chồng. Bà Nguyễn Thị Phương D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ông Phan Thành P không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:
  2. Bà Nguyễn Thị Phương D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Thành P. Đồng thời, ông P cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Bà Nguyễn Thị Phương D và ông Phan Thành P đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông P theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  3. Về nội dung:
    1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương D và ông Phan Thành P thống nhất, sau thời gian quen biết và tìm hiểu, bà D và ông P chung sống với nhau vào năm 2015 nhưng không đăng ký kết hôn.
    2. Trong quá trình giải quyết vụ án, theo Công văn số 527/UBND-HT ngày 09/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã M và tại biên bản xác minh ngày 28/5/2024 Ủy ban nhân dân xã H cung cấp thông tin, xác định không tìm thấy thông tin kết hôn giữa bà D và ông P nên có cơ sở xác định bà D và ông P chung sống nhưng không đăng ký kết hôn.

      Xét, bà D và ông P chung sống với nhau vào năm 2015. Mặc dù, có đủ điều kiện kết hôn nhưng bà D, ông P không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, không công nhận bà D và ông P là vợ chồng theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

    3. Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Hữu P1, sinh ngày 05/02/2016, hiện con chung sống với bà D. Xét thấy, bà D, ông P thống nhất để con chung cho bà D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con. Nên Hội đồng xét xử giao con chung cho bà D chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ chấp nhận. Do bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.
    4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà D, ông P xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
    5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 14, các Điều 53; 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Phương D và ông Phan Thành P là vợ chồng.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Phương D được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Phan Hữu P1, sinh ngày 05/02/2016. Ông Phan Thành P không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
  3. Bà Nguyễn Thị Phương D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phan Thành P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  4. Về án phí sơ thẩm:
  5. Bà Nguyễn Thị Phương D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015230 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 15 tháng 3 năm 2024; bà Nguyễn Thị Phương D đã nộp đủ án phí.

    Ông Phan Thành P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Bà Nguyễn Thị Phương D, ông Phan Thành P có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Chợ Mới (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diễm Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 185/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger