|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 185/2025/HSST Ngày 01/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan;
- Ông Trần Văn Chánh;
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 157/2025/TLST-HS ngày 03/03/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 và Thông báo dời thời gian xét xử số 271/2025/TB-TA ngày 19 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:
Trịnh Quang C, sinh năm 1992, tại Bắc Giang; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Nhân viên phát triển thị trường; Trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Quang V (đã mất) và bà Cáp Thị T, sinh năm 1956; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Có vợ tên: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1997, có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt ngày 19/12/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ - Bị cáo có mặt.
* Bị hại: Công ty cổ phần D.
Địa chỉ: C, bến V, phường A, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp: Ông Phan Nhật Thiên A, sinh năm 1993 - vắng mặt;
Địa chỉ: Khu dân cư M, ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Quang C là nhân viên phát triển thị trường (Shipper) của Công ty Cổ phần D (địa chỉ: số D đường X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) (sau đây viết tắt là Công ty) do ông Lương Duy H (sinh năm 1988, ngụ tại: số C B, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh là Tổng Giám đốc, đồng thời là người đứng đầu chi nhánh tại Đồng Nai (địa chỉ: số A đường Đ, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai), có ký Hợp đồng lao động (dịch vụ) từ ngày 17/11/2023 đến ngày 31/12/2024 và được cấp mã nhân viên “3077084”. C được Công ty bố trí làm việc tại Điểm kinh doanh (Bưu cục) số 12 (Địa chỉ: số A, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) với nhiệm vụ cụ thể: Nhận các đơn hàng từ điểm kinh doanh để đi giao cho khách hàng, thu và quản lý số tiền từ khách hàng thanh toán, sau đó nộp về cho Công ty vào thời điểm cuối ca làm việc trong ngày; kết quả giao từng đơn hàng phải được người đi giao cập nhật trên phần mềm (App) giao hàng GHN-Driver (đã được cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO M3 Pro của C).
Quá trình làm việc, trong khoảng thời gian từ ngày 15/01/2024 đến ngày 24/01/2024, C đã nhiều lần lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên chiếm đoạt số tiền khách hàng đã thanh toán của 04 đơn hàng, cụ thể:
- - Ngày 15/01/2024, sau khi giao thành công đơn hàng có mã số “G8VGAFY9” và thu được số tiền 3.552.500 đồng (Ba triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm đồng) do khách hàng thanh toán, C thao tác trên App giao hàng thể hiện đơn hàng chưa giao thành công (giao hàng thất bại), chiếm đoạt số tiền trên. Đến cuối ca làm việc, theo quy định các đơn hàng chưa giao được phải trả lại kho của Công ty, C lợi dụng sự lỏng lẻo trong quản lý tại Bưu cục, tự dùng công cụ (súng) quét mã vạch thực hiện thao tác trả lại đơn hàng trên vào kho Công ty.
- - Bằng thủ đoạn tương tự nêu trên, ngày 16/01/2024 C tiếp tục chiếm đoạt số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) do khách hàng thanh toán của đơn hàng có mã số “G8VCQPMF”; ngày 22/01/2024 chiếm đoạt số tiền 5.600.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm nghìn đồng) do khách hàng thanh toán của đơn hàng có mã số “G8V4TTDM” và ngày 24/01/2024 chiếm đoạt số tiền 3.770.000 đồng (Ba triệu, bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) do khách hàng thanh toán của đơn hàng có mã số "G8V98M8".
Đến ngày 27/3/2024, sau khi kiểm tra, phát hiện hành vi nêu trên, Công ty đã làm đơn tố cáo C đến Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố, điều tra xử lý.
* Vật chứng vụ án:
- - Tổng số tiền 16.992.500 đồng (Mười sáu triệu, chín trăm chín mươi hai nghìn, năm trăm đồng) bị cáo C chiếm đoạt của Công ty, đã tiêu xài hết nên không thu hồi được;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO M3 Pro (số I: 867592051227377/01, có gắn sim số: 0349063558) thu giữ của bị cáo Trịnh Quang C là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội;
- - 01 USB lưu trữ file hình ảnh liên quan vụ án, trích xuất thu giữ được tại Bưu cục.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là Công ty Cổ phần D (do bà Trần Thị Thiện M là đại diện theo ủy quyền) đã nhận số tiền 17.342.500 đồng (Mười bảy triệu, ba trăm bốn mươi hai nghìn, năm trăm đồng) do ông Trịnh Quang T2 (sinh năm 1979, nơi thường trú: 86, tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là anh trai bị cáo bồi thường theo yêu cầu và không có yêu cầu bị cáo bồi thường.
* Tại Bản Cáo trạng số 135/CT-VKSBH ngày 11 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trịnh Quang C về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:
- - Tình tiết giảm nhẹ:
- + Người phạm tội đã tự nguyện bồi thường khắc phục thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự);
- + Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên cần xem xét làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo (theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).
- - Tình tiết tăng nặng: không.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Trịnh Quang C mức án từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù;
* Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi và quyết định đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.
Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Trịnh Quang C là nhân viên phát triển thị trường (Shipper) của Công ty Cổ phần D, được phân công làm việc tại điểm kinh doanh số 12 (Địa chỉ: số A, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Trong khoảng thời gian từ ngày 15/01/2024 đến ngày 24/01/2024, đã 04 lần có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô chiếm đoạt tiền giao hàng của Công ty, gồm:
- - Lần thứ nhất: Vào ngày 15/01/2024, tham ô chiếm đoạt số tiền 3.552.500 đồng (Ba triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm đồng) của đơn hàng có mã số "G8VGAFY9";
- - Lần thứ hai: Vào ngày 16/01/2024, tham ô chiếm đoạt số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) của đơn hàng có mã số “G8VCQPMF”;
- - Lần thứ ba: Vào ngày 22/01/2024, tham ô chiếm đoạt số tiền 5.600.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm nghìn đồng) của đơn hàng có mã số “G8V4TTDM";
- - Lần thứ tư: Vào ngày 24/01/2024, tham ô chiếm đoạt số tiền 3.770.000 đồng (Ba triệu, bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) của đơn hàng có mã số “G8V98M8”, thì bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý.
Tổng giá trị tài sản bị cáo tham ô chiếm đoạt được là 16.992.500 đồng (Mười sáu triệu, chín trăm chín mươi hai nghìn, năm trăm đồng).
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trịnh Quang C về tội “Tham ô tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục thiệt hại; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nêu trên, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO M3 Pro (số I: 867592051227377/01, có gắn sim số: 0349063558) thu giữ của bị cáo Trịnh Quang C là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội;
- - 01 USB lưu trữ file hình ảnh liên quan vụ án, trích xuất thu giữ được tại Bưu cục (lưu hồ sơ vụ án).
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 48; Điều 54 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang C phạm tội “Tham ô tài sản”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trịnh Quang C 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/12/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO M3 Pro (số I: 867592051227377/01, có gắn sim số: 0349063558) thu giữ của bị cáo Trịnh Quang C là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội;
- - 01 USB lưu trữ file hình ảnh liên quan vụ án, trích xuất thu giữ được tại Bưu cục (lưu hồ sơ vụ án).
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Thái |
6
Bản án số 185/2025/HSST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tham ô tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 185/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
