Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/HSST

Ngày 03/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tôn;

Bà Nguyễn Thị Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2024/TLST-HS ngày 19/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXX-ST ngày 14/11/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2004;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm N, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 19/12/2019, có hành vi “Đánh nhau” bị Công an thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” tại Quyết định số 43300/QĐXPHC ngày 20/4/2020; Ngày 22/7/2024, có hành vi “Trộm cắp tài sản” bị Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng tại Quyết định số 4076 ngày 21/8/2024.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Anh Phạm Văn T, sinh năm 2004;

Địa chỉ: TDP Đ, phường Đ, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.

(anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Xuân T1 (tên gọi khác: C), sinh năm 1999; Địa chỉ: TDP Q, phường B, TP P, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Anh Bùi Song M, sinh năm 2005; Địa chỉ: TDP Đ, phường Đ, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Anh Dương Văn Q1, sinh năm 1980; Địa chỉ: TDP A, phường B, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh T1, anh M, anh Q1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 30/7/2024, Nguyễn Văn V đến quán game “Anh Q1” tại tổ dân phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để chơi game. Khi đến quán game, V ngồi cạnh một người tên T2 (là bạn quen trước đó và không rõ họ tên, địa chỉ), V chơi game được một lúc thì tín hiệu hệ thống internet của quán bị mất, không chơi được game. Lúc này, V và T2 đi ra ngoài cửa quán ngồi thì thấy có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 20H1–565.72 đang dựng ở gần đó, chìa khóa xe vẫn cắm ở cốp xe. T2 nói “không biết xe của ai vẫn cắm chìa khóa ở cốp, tao rút ra xem của ai”, sau đó T2 rút chìa khóa và cất vào túi quần, V đến chỗ chiếc xe rồi để chiếc áo khoác của mình trên yên xe. Ngay sau đó thì hệ thống internet hoạt động trở lại, V và T2 quay lại bàn máy tiếp tục chơi điện tử, lúc đó T2 để chìa khóa xe mô tô trên bàn máy chơi game. Khoảng 10 phút sau, V nói với T2 “tao lấy xe đó đi về để lấy giấy tờ ra làm căn cước”, T2 đưa chìa khóa xe cho V, V ra chỗ xe mô tô mở khóa và điều khiển xe đi. V điều khiển xe mô tô đi lên nhà chị Nông Thị M1 (là bạn gái của V) ở xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và chơi tại đây.

Trước đó, khoảng 07 giờ 10 phút cùng ngày, anh Phạm Văn T (sinh năm 2004, trú tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) đi xe mô tô BKS 20H1 – 565.72 đến quán game “Anh Q1” để chơi game, đến nơi anh T dựng xe trước cửa quán. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, anh T và anh Bùi Song M (sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) là bạn của anh T cùng đi lấy điện thoại của anh M đang sửa ở khu vực gần Trung tâm giáo dục thường xuyên thành phố P. Khi đi, anh T ra xe của mình và dùng chìa khóa mở cốp xe để lấy áo mưa, rồi đi cùng xe mô tô của anh M, khi đó anh T quên không lấy chìa khóa mà vẫn cắm ở cốp xe. Sau khi lấy được điện thoại quay về quán game “Anh Q1” thì anh T thấy trên yên xe mô tô của mình có một chiếc áo khoác màu nâu, anh T không quan tâm mà đi vào quán để tiếp tục chơi game. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, anh T ra lấy xe để đi về thì phát hiện bị mất xe nên đã đến Công an phường B, thành phố P trình báo sự việc và giao nộp 01 USB có chứa 03 video có nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản.

Ngày 04/8/2024, Công an phường B, thành Phố P làm việc với Nguyễn Văn V và tiến hành thu giữ tài sản là chiếc xe mô tô BKS 20H1-565.72. Ngoài ra, V còn giao nộp cho Cơ quan Công an các đồ vật gồm: 01 quần Jean màu xanh; 01 áo khoác màu nâu, sọc tay màu trắng và 01 áo cộc tay màu đen có in hình trước ngực mà V đã mặc khi thực hiện tội phạm.

Tại bản Kết luận định giá số 77/KLĐG ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thành phố P, kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 20H1-565.72, số khung RLHJA3925MY025040, số máy JA39E2141043 giá trị còn lại của phương tiện là 10.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, V khai: V nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên từ khi phát hiện chiếc chìa khóa xe cắp ở cốp xe, lúc đó V đã chủ động để chiếc áo khoác của mình trên yên xe, để nhằm tránh sự chú ý của người khác lúc lấy xe. Việc trộm cắp xe là V tự một mình thực hiện, không bàn bạc với ai khác. Mục đích V lấy xe là để đi lại, chưa bán và cầm cố ở đâu. Lời khai nhận của V là phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ của vụ án:

  • 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 20H1 - 565.72, số khung RLHJA3925MY025040, số máy JA39E2141043 được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Văn T quản lý, sử dụng.
  • 01 USB có chứa 03 video có nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “B” lưu theo hồ sơ vụ án.
  • 01 quần Jean màu xanh; 01 áo khoác màu nâu, sọc tay màu trắng và 01 áo cộc tay màu đen có in hình trước ngực (niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu A1) được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 167/CT-VKSPY ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Nguyễn Văn V về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày bản luận tội:

Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo V từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì đối với Nguyễn Văn V nên không đặt ra việc giải quyết.
  • Về xử lý vật chứng:
    • - Tiếp tục lưu giữ 01 USB có chứa 03 vi deo có nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “B” lưu theo hồ sơ vụ án.
    • - Trả lại cho bị cáo 01 quần Jean màu xanh; 01 áo khoác màu nâu, sọc tay màu trắng và 01 áo cộc tay màu đen có in hình trước ngực (niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu A1).

Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Kết thúc phần tranh tụng bị cáo không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì, nhất trí với bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà, bị hại vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; những người làm chứng vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình điều tra đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ được lưu trong hồ sơ vụ án; Về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong, bị hại không có yêu cầu gì thêm; Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy sự vắng mặt của người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, những người làm chứng, biên bản mở niêm phong USB chứa các video liên quan đến vụ việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 30/7/2024, tại quán game “Anh Q1” thuộc tổ dân phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn V đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 20H1-565.72 có giá trị 10.500.000 đồng của anh Phạm Văn T. Sau đó V sử chiếc xe trộm cắp được để đi lại thì bị phát hiện xử lý.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 167/CT-VKSPY ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...”

[4]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức, được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Ngày 22/7/2024, có hành vi “Trộm cắp tài sản” bị Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng tại Quyết định số 4076 ngày 21/8/2024. Ngày 19/12/2019 bị cáo có hành vi “Đánh nhau” bị Công an thị xã (nay là thành phố P) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” tại Quyết định số 43300/QĐXPHC ngày 20/4/2020.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt: Từ các nhận định về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng ham chơi lười lao động, thiếu tu dưỡng, có lối sống buông thả. Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu tài sản bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác với lỗi cố ý. Trong một thời gian ngắn, ngày 22/7/2024 bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản tại một quán ăn trên địa bàn, bị phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà chỉ sau đó vài ngày lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, qua đó thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn một thời gian nhất định mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ cần được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 20H1 - 565.72, số khung RLHJA3925MY025040, số máy JA39E2141043 được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Văn T quản lý, sử dụng là phù hợp.

Đối với 01 (một) USB có chứa 03 video có nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “B” là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo được thu thập dưới dạng dữ liệu điện tử cần được tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Đối với 01 quần Jean màu xanh; 01 áo khoác màu nâu, sọc tay màu trắng và 01 áo cộc tay màu đen có in hình trước ngực (niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu A1) là trang phục của bị cáo mặc khi thực hiện tội phạm không phải là công cụ, phương tiện phạm tội hoặc mang dấu vết tội phạm, bị cáo đề nghị được trả lại nên cần trả cho bị cáo quản lý sử dụng.

[9]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[10]. Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Nguyễn Văn V khai nhận có người tên T2 là người lấy chiếc chìa khóa từ xe mô tô BKS 20H1 - 565.72, sau đó đưa cho V sử dụng để trộm cắp chiếc xe. Tuy nhiên, V khai T2 không biết V dùng chìa khóa là để trộm cắp xe, việc T2 rút chìa khóa từ xe mô tô mục đích là để cất hộ chủ xe, hiện nay không xác định được nhân thân của T2. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Anh Nguyễn Xuân T1 được Nguyễn Văn V kể lại việc trộm cắp được chiếc xe máy khi anh T1 đã biết hành vi phạm tội của V, không thuộc trường hợp được quy định tại Điều 390 (dẫn chiếu tới Điều 389 và khoản 2,3 Điều 19) Bộ luật hình sự nên không cấu thành tội “Không tố giác tội phạm”.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 106; 136, 329, 331, 333, 336 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 06/8/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường đối với bị cáo nên không xem xét giải quyết.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;

Tiếp tục lưu giữ 01 USB có chứa 03 video có nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “B” lưu theo hồ sơ vụ án.

Trả lại cho bị cáo: 01 thùng cát tông được niêm phong có dấu đỏ ký hiệu A1, ghi bên trong có 01 quần Jean màu xanh; 01 áo khoác màu nâu, sọc tay màu trắng; 01 áo cộc tay màu đen có in hình trước ngực.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 16/10/2024).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Thi hành án thành phố Phổ Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/HSST ngày 03/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 185/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger