|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 185/2024/HS-ST
Ngày: 29-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vụ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông La Văn Việt
- Bà Trần Thị Đổi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn Tr, tên gọi khác: Long, sinh ngày 01/6/1995 tại tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Áp Kinh 1B, xã Đông Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1975 (sống) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 (sống); bản thân chưa có vợ con; Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2016/HSST ngày 08-4-2016 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trần Văn Tr 15 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2017, Triều chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm nên chưa được xóa án tích, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Văn G, sinh năm 1998
Địa chỉ: Ấp 1, xã Bình Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1967
Địa chỉ: Ấp 1, xã Bình Thành, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt)
- Người chứng kiến:
- Nguyễn Đình L, sinh năm 1987(vắng mặt)
- Trần Phúc V, sinh năm 2003 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 16/8/2024, Trần Văn Tr đi xe mô tô thuê từ nhà nghỉ biển hiệu Kiều Ph đến quán cà phê biển hiệu Gold thuộc ấp 5, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để uống nước. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Tr nhìn thấy một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 62S1-187.02 của Nguyễn Văn G đang đậu trước quán cà phê Gold, không có người trông coi nên nảy sinh ý định lén lút chiếm đoạt xe mô tô này để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, Tr lén lút tiếp cận xe mô tô, nhìn thấy xe không có chìa khóa nên Triều đẩy xe mô tô biển số 62S1-187.02 về hướng cổng Khu công nghiệp Tân Đức thuộc ấp Bình Tiền 2, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An khoảng 150m thì dừng lại, Tr tháo dây điện kết nối giữa công tắc điện và động cơ để khởi động máy nhưng không được. Lúc này, Tr tiếp tục đẩy xe mô tô đi về hướng cổng Khu công nghiệp Tân Đức khoản 50m tìm tiệm sửa xe. Trong lúc Tr đẩy xe mô tô biển số 62S1-187.02 đi trên đường thì bị Công an xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành kiểm tra phát hiện vụ việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐGTS ngày 16/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển số: 62S1-187.02, số khung: 3902HY467987, số máy: JA39E0443154, trị giá 8.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 180/CT-VKSĐH ngày 08-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố Trần Văn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Tr hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố bị cáo Trần Văn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan.
Bị hại Nguyễn Văn G trình bày: Anh thống nhất với nội dung trong cáo trạng đã nêu, vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 16/8/2024 anh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 6251 - 187.02 đến quán cà phê Gold để uống cà phê, khi đến quán cà phê anh đậu xe phía trước quán cà phê và vào bên trong quán nằm võng uống nước. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày anh ra lấy xe để đi làm thì phát hiện mất xe nên đến cơ quan Công an trình báo. Hiện anh đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển số: 62S1-187.02, anh không không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự anh yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn Tr từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16-8-2024.
Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Qua điều tra xác minh thì xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển số: 62S1- 187.02 do ông Nguyễn Văn C đăng ký chủ sở hữu. Năm 2018, ông C mua xe mô tô trên và cho anh Nguyễn Văn G (con ruột ông C) sử dụng đến nay. Do anh Nguyễn Văn G là con ruột của ông C nên không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Hiện bị hại anh Nguyễn Văn G đã nhận lại xe mô tô và anh G không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Về vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển số: 62S1- 187.02, số khung: 3902HY467987, số máy: JA39E0443154, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã giao trả lại cho bị hại anh Nguyễn Văn C là phù hợp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo, bị hại không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn G có đơn xin vắng mặt và người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, bản kết luận định giá tài sản, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận xuất phát từ việc không có tiền tiêu xài nên khoảng 13 giờ 10 phút ngày 16/8/2024, tại quán cà phê biển hiệu Gold thuộc ấp 5, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Trần Văn Triều có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, số khung: 3902HY467987, số máy: JA39E0443154, biển số: 62S1-187.02 của Nguyễn Văn G trị giá 8.000.000 đồng thì bị Công an xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An kiểm tra mời Triều về trụ sở làm việc. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
[2.2] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với động cơ, mục đích vụ lợi, muốn có tiền để tiêu xài mà không phải bỏ công sức lao động của mình làm ra nên lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được tài sản của người khác là do công sức lao động làm ra được pháp luật bảo vệ và bất khả xâm phạm khi chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương. Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[2.3] Tuy nhiên, cần xem xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Qua điều tra xác minh thì xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển số: 62S1- 187.02 do ông Nguyễn Văn Có đăng ký chủ sở hữu. Năm 2018, ông Có mua xe mô tô trên và cho anh Nguyễn Văn Giàu (con ruột ông Có) sử dụng đến nay. Do anh Nguyễn Văn Giàu là con ruột của ông Có nên không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Hiện bị hại anh Nguyễn Văn Giàu đã nhận lại xe mô tô và anh Giàu không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
[5] Về vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển số: 62S1- 187.02, số khung: 3902HY467987, số máy: JA39E0443154, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã giao trả lại cho bị hại anh Nguyễn Văn Có là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo Trần Văn Triều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn Tr 02 (hai) năm tù, thời gian tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16-8-2024.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn Triều trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (29-11-2024).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Văn Triều phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vụ |
Bản án số 185/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 185/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Tr
