Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/HS-ST

Ngày 22 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Yến và ông Trần Hùng Bích.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 187/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh N, sinh năm 1976, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số D, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị Ấ; có 05 anh em, bị cáo thứ hai; có vợ: Trần Thị Diệu H (đã ly hôn), có 01 người con, sinh năm 2007;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 10/11/2023, bị Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, nhưng chưa nộp phạt.

Nhân thân: Ngày 08/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong bản án ngày 09/6/2017.

Bị tạm giam từ ngày 07/9/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L; có mặt.

Bị hại: Ông Võ H1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số G, Chung cư A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Thành L1, sinh năm 2001; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Thành Â, sinh năm 1996; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh N bị Công an thành phố L xử phạt vi phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 10/11/2023, nhưng chưa nộp phạt. Đến khoảng 17 giờ ngày 01/12/2023, N đi bộ đến khu vực Công trình đang xây dựng giai đoạn 2, dự án khu dân cư T (thuộc khóm M, phường M, thành phố L), do anh Võ Hiệp C trách nhiệm quản lý, để tìm tài sản lấy trộm. Tại đây, N leo rào vào phía trong Công trình thì phát hiện 02 thanh sắt hộp, 01 ống sắt tròn, nhưng không người trông giữ nên đã lấy trộm thì bị các anh Võ H1, Nguyễn Thành L1, Nguyễn Thành  phát hiện bắt giữ N giao cho Công an phường M xử lý.

- Về vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 cây sắt hộp, quy cách H50x100, dài 3,78m; 01 cây sắt hộp, quy cách H50x100, dài 3,70m; 01 cây thép ống tròn, quy cách phi 49, dài 3,66m.

- Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 76/KL-HĐĐGTS ngày 15/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, ghi nhận: 01 cây sắt hộp, quy cách H50x100, dài 3,78m, trọng lượng 9,5kg, trị giá 99.750 đồng; 01 cây sắt hộp, quy cách H50x100, dài 3,70m, trọng lượng 10kg, trị giá 105.000đồng; 01 cây thép ống tròn, quy cách phi 49, dài 3,66m, trọng lượng 5,8kg, trị giá 63.800 đồng. Tổng trị giá 268.550 đồng.

Ngày 15/8/2024, Nguyễn Thanh N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố, để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 193/CT-VKSLX ngày 29 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Nguyễn Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử.

Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu nên không xét đến.

Về xử lý vật chứng, đã giao trả cho bị hại nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Sự vắng mặt của bị hại, người làm chứng. Xét thấy, những người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử. Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung:

[3] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận, do không có tiền tiêu xài cá nhân, nên khi phát 03 thanh sắt trong công trình đang thi công thuộc quyền quản lý của anh H1, nhưng không người trông giữ nên bị cáo đã lấy trộm 03 thanh sắt mang ra ngoài thì bị phát hiện như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng; với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.

Từ các căn cứ trên, có cơ sở xác định, khi phát hiện bị hại sơ hở trong việc bảo quản tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 03 thanh sắt thuộc quyền quản lý của anh H1. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 268.550 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù, trị giá tài sản chiếm đoạt chưa đủ định lượng để xử lý trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo đã bị Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi chiếm đoạt tài sản vào ngày 10/11/2023, nhưng chưa nộp phạt mà còn vi phạm. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Quyền sở hữu là một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì mục đích muốn có tiền tiêu xài cá nhân, mà không phải lao động, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Xét, cần có mức phạt nghiêm cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu, do bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào 08/9/2016. Sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật, thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả 01 cây sắt hộp, quy cách H50x100, dài 3,78m; 01 cây sắt hộp, quy cách H50x100, dài 3,70m; 01 cây thép ống tròn, quy cách phi 49, dài 3,66m cho người quản lý hợp pháp là phù hợp, nên không đề cập giải quyết lại.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bị hại không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N: 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giam ngày 07/9/2024.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQĐT Công an TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Chân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 185/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Nhã bị Công an thành phố Long Xuyên xử phạt vi phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 10/11/2023, nhưng chưa nộp phạt. Đến khoảng 17 giờ ngày 01/12/2023, Nhã đi bộ đến khu vực Công trình đang xây dựng giai đoạn 2, dự án khu dân cư Tây Sông Hậu (thuộc khóm Mỹ Lộc, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên), do anh Võ Hiệp chịu trách nhiệm quản lý, để tìm tài sản lấy trộm. Tại đây, Nhã leo rào vào phía trong Công trình thì phát hiện 02 thanh sắt hộp, 01 ống sắt tròn, nhưng không người trông giữ nên đã lấy trộm thì bị các anh Võ Hiệp, Nguyễn Thành Lợi, Nguyễn Thành Ân phát hiện bắt giữ Nhã giao cho Công an phường Mỹ Phước xử lý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger