|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ————— |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 185 /2024/HS-ST
Ngày 21 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Diệp Anh
- Ông Nguyễn Xuân Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Ông Quách Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Vũ Duy L- Sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: SỐ D H, phường H, quận H, Thành phố H ở: Số D ngõ D đường K, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội Nghề nghiệp: Lao động tư do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn K bà Phạm Thị T sự: Không;
Tiền án: Có 01 tiền án;
- + Ngày 30/9/2016, bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 550/2016/HSST); Chưa được xoá án tích;
Nhân thân:
- + Ngày 24/2/2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án số 62/2005/HSST; đã xóa án tích);
- + Ngày 30/11/2018, bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 319/2018/HSST; đã xóa án tích);
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/02/2024; Tạm giam ngày 09/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố H; Có mặt tại phiên tòa;
2. Đỗ Phi H- Sinh năm 1971; Nơi cư trú: Số A Đ, phường Đ, quận H, Thành phố H: Lao động tư do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Phi L1 chêt); Con bà Nguyễn Thị N sự: Không;
Tiền án: 04 Tiền án;
- + Ngày 29/12/2016 bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 458/2016/HSST);
- + Ngày 14/11/2018 bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 292/2018/HSST);
- + Ngày 05/2/2021 bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 24/2021/HSST);
- + Ngày 21/12/2023 bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 288/2023/HSST, bị cáo chưa chấp hành hình phạt tù của bản án này);
Nhân thân:
- + Ngày 23/9/1993 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 694/HSST);
- + Ngày 20/12/1996 bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 665/HSST);
- + Ngày 27/01/1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 73/HSST);
- + Ngày 08/10/2002 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 771/HSST);
- + Ngày 31/5/2006 bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 220/2006/HSST);
- + Từ năm 1992 đến năm 2016, Đỗ Phi H có 03 tiền sự bị xử phạt hành chính về các hành vi trộm cắp tài sản, đi cai nghiện bắt buộc, gây rối trật tự công cộng và tàng trữ vũ khí thô sơ;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/02/2024; Tạm giam ngày 09/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 của Công an Thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.
3. Lê Quang HoàngSinh năm 1991; Nơi cư trú: Số A Đ, phường Đ, quận B, Thành phố H: Lao động tư do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang T1 bà Nguyễn Thu H1 án, Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 387/2019/HSST);
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/02/2024; Tạm giam ngày 09/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 của Công an Thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.
4. Lã Bá D- Sinh năm 1994; ĐKHKT tại: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi ở: Số A ngõ B Phố V, phường C, quận B, Thành phố H: Lao động tư do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lã Bá P bà Ngô Thị H2 vợ là Bùi Thị D1 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/02/2024; Tạm giam ngày 09/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 của Công an Thành phố H; Có mặt tại phiên tòa;
5. Nguyễn Diệu L - Sinh năm 2000; Nơi ĐKHKTT: phường T, thành phố P, tỉnh V; Nơi ở: Số 45 ngõ 41 đường K, phường T, quận T, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đăng D; Con bà Đặng Thị O; Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/02/2024; Tạm giam ngày 09/03/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H; Có mặt tại phiên tòa;
+ Người bị hại:
- Chị Phan Lan A - Sinh năm 1999; Trú tại: Số G L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị L3 - Sinh năm 1990; Trú tại: Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Vắng mặt;
- Anh Nguyễn Thiện V - Sinh năm 1999; Trú tại: Tổ F, thị trấn K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt;
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lưu Văn H3, sinh năm 1990; Trú tại: thôn H, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Có mặt;
- Anh Lê Nhật T2, sinh năm 1987; ĐKHKTT tại: Số A L, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt;
- Chị Lã Thị T3, sinh năm 1989; Trú tại: Số A P, thành phố N, tỉnh Nam Định; Có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/02/2024, anh Lưu Văn H3 đến Công an phường C, quận H trình báo về việc anh H3 nghi ngờ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH150 (SK: RLHKF4213MY017063, SM: KF42E1064508) gắn BKS: 29D2 – 92214 anh H3 mua của Lê Nhật T2 là tài sản do phạm tội mà có (do anh H3 không đăng ký được).
Quá trình xác minh, cơ quan công an xác định SK: RLHKF4213MY017063, SM: KF42E1064508 trên chiếc xe máy Honda – SH được cấp cho xe có BKS: 99F1 – 57771 có chủ đăng ký xe là: Biện Xuân Q (Sinh năm 1991; Địa chỉ: Á L, Đ, T, Bắc Ninh). Tại cơ quan điều tra anh Biện Xuân Q trình bày: Tháng 7/2021, anh Q mua chiếc xe máy Honda – SH150 màu đỏ đen, SK: RLHKF4213MY017063, SM: KF42E1064508, đăng ký BKS: 99F1- 57771 để sử dụng làm phương tiện đi lại.
Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 25/7/2022, anh Q bị trộm cắp chiếc xe máy trên để tại sân nhà địa chỉ: thôn Á, Đ, T, Bắc Ninh. Sau đó, anh Q đã trình báo tại công an xã Đ. Hiện anh Q vẫn còn lưu giữ giấy đăng ký xe máy trên.
Căn cứ trình báo của anh Lưu Văn H3, Cơ quan điều tra mời Lê Nhật T2 làm việc. Lê Nhật T2 khai được Vũ Duy L – bạn xã hội nhờ đứng tên bán xe hộ (do L bị mất căn cước công dân) cho anh H3.
Cơ quan điều tra triệu tập Vũ Duy L đến làm việc. L khai chiếc xe máy Honda SH đưa cho T2 mang đi bán là của L mua lại của một người không quen biết. Ngoài ra, L thừa nhận cùng với Lê Quang H4, Đỗ Phi H thực hiện 03 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn quận H và đều mang đến chỗ Lã Bá D tiêu thụ. Quá trình mang xe đi tiêu thụ còn có Nguyễn Diệu L2 là người yêu của Vũ Duy L giúp sức.
Căn cứ lời khai của các đối tượng và tài liệu xác minh ban đầu, cơ quan điều tra đã ra quyết định bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp với Vũ Duy L, Lê Quang H4, Đỗ Phi H, Lã Bá D và Nguyễn Diệu L2 về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Cơ quan điều tra đã tiến hành mời những người liên quan và tạm giữ các đồ vật tài sản như sau:
Tiến hành khám xét nơi ở của Vũ Duy L và Duy L tự nguyện giao nộp (BL 153-154;177):
- - 01 (một) áo mưa màu tím đã qua sử dụng.
- - 02 (hai) mũ bảo hiểm đen họa tiết trắng đã qua sử dụng.
- - 03 (ba) ổ khóa chữ U đã qua sử dụng.
- - 04 (bốn) ổ khóa xe máy các loại đã qua sử dụng.
- - 02 (hai) kìm thủy lực các kích thước đã qua sử dụng.
- - 03 (ba) xà beng kim loại các kích thước đã qua sử dụng.
- - 02 (hai) kìm cắt kim loại các kích thước đã qua sử dụng.
- - 01 (một) giữa màu kim loại đã qua sử dụng.
- - 04 (bốn) công cụ phá khóa đã qua sử dụng.
- - 01 (một) đèn pin laze đã qua sử dụng.
- - 01 (một) xe máy Honda AirBlade màu đen không đeo BKS.
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu vàng, đeo BKS: 29X5 – 17303, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ, đeo BKS: 81T1–14113, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2203, màu đen, số Imeil: 84798890588, số Imei2: 84845024961, phần màn hình điện thoại và phần lưng điện thoại có nhiều vết xước, nứt vỡ, cũ và đã qua sử dụng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Quang H4 và H4 tự nguyện giao nộp (BL 161-162):
- - 01 áo khoác có mũ màu cam có viền tay màu trắng;
- - 01 quần nỉ dài màu đen;
- - 01 đôi giày;
- - 01 (một) xe máy Piagio Liberty màu trắng, đeo BKS: 29G1 – 025.60, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) đăng ký xe số 011772, của xe BKS: 29G1 – 025.60, SK: RP8M73100BV005182, SM: M731M
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu xám, dung lượng 256GB, lắp số thuê bao: 0967053996, số I: 357265092744273, phần màn hình điện thoại và phần lưng điện thoại có nhiều vết xước, nứt vỡ, cũ và đã qua sử dụng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Phi H và H tự nguyện giao nộp (BL 157-158):
- - 01 quần dài đen trắng và 01 áo sơ mi đen;
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của của Lã Bá D và D tự nguyện giao nộp:
- - 01 (một) xe máy Yamaha Exciter, màu đen, đeo BKS: 29G1 – 907.14, đã qua sử dụng.
- - 01 điện thoại Iphone 11 Pro max màu xám, dung lượng: 64GB, lắp số điện thoại: 0943.558.xxx, đã cũ đã qua sử dụng.
Thu giữ của Lê Nhật T2 (BL 178):
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Namotor, số loại: Gogoro, màu đỏ xám, không đeo BKS, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen, dung lượng 64GB, lắp số thuê bao: 0359348189, số Imei1: 865390055016587, số Imei2: 865390055016595, phần màn hình điện thoại và lưng điện thoại nhiều vết xước, nứt vỡ, cũ và đã qua sử dụng.
Thu giữ của Nguyễn Văn T4 (BL 175):
- - 01 (một) xe máy Honda Wave S, đeo BKS: 98H1-312.34, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) điện thoại Iphone 7 màu đen, dung lượng 32GB đã qua sử dụng.
Thu giữ của anh Lưu Văn H3 (BL 174):
- - 01 (một) xe máy Honda – SH 150 màu đỏ đen, gắn BKS: 29D2 – 922.14 đã qua sử dụng.
- - 01 (một) đăng ký xe số 29 010561 gắn BKS: 29D2 – 922.14, SK: RLHKF4213MY017063, SM: KF43E1064508, mang tên: Lưu Mạnh T5 ở: 131 xóm T, Q, H, Hà Nội.
- - 01 bản photo CMND tên Lưu Mạnh T5 ở: 131 xóm T, Q, H, Hà Nội.
- - 01 giấy mua bán viết tay, người bán xe Lê Nhật T2.
Thu giữ của Nguyễn Diệu L2 (BL 176):
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, dung lượng 64GB, số Imei: 352901117374291, cũ và đã qua sử dụng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1944/TBKL-HĐĐGTS ngày 08/3/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận:
- - 01 (một) xe máy Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, BKS: 29C1 – 696.82, SK: 3907HY531649, SM: JA39E0506802 (xe đã qua sử dụng) trị giá 11.000.000 đồng;
- - 01 (một) xe máy Honda SH Mode, màu trắng nâu, BKS: 99C1 – 256.28, SK: 5125FY119164, SM: JF51E0320147 (xe đã qua sử dụng) trị giá 35.000.000 đồng.
- - 01 (một) xe máy Yamaha Exciter, màu đen, BKS: 79X1 - 098.79, SK: 1010LY259590, SM: G3D4E1030623 (xe đã qua sử dụng) trị giá 21.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 2402/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K3 - Công an Thành phố H kết luận (BL 170):
- Xe mô tô nhãn hiệu Piagio Liberty, đeo biển kiểm soát: 29G1 - 025.60:
- Số khung nguyên thủy: *RP8M73100BV005182*
- Số máy nguyên thủy: M731M*4005139*
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, đeo biển kiểm soát: 29X5-173.03:
- Số khung nguyên thủy: RLHJF451XFY605424
- Số máy nguyên thủy: JF45E-0646972
- Xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, đeo biển kiểm soát: 81T1 - 141.13:
- Số khung nguyên thủy: RLHJF4509DY060241.
- Số máy nguyên thủy: JF45E - 0094214
- Xe máy nhãn hiệu NAMOTOR, không đeo biển kiểm soát:
- Số khung nguyên thủy: RL9TCBAGNNBG01549.
- Số máy nguyên thủy: RNA139QMBC-A001549.
- Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, đeo biển kiểm soát: 98H1 - 321.34:
- Vị trí số khung có dấu vết tẩy xóa, xác định số khung nguyên thủy của xe là: RLHJA3926NY?...? (Ký tự "?" không xác định được).
- Vị trí số máy có dấu vết tẩy xóa, xác định số máy nguyên thủy của xe là: JA39E - ?...? (Ký tự "?" không xác định được).
- Xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, đeo biển kiểm soát: 29D2 - 922.14:
- Số khung nguyên thủy: RLHKF4213MY017063.
- Số máy nguyên thủy: KF42E - 1064508.
- Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, đeo biển kiểm soát: 29G1 - 907.14:
- Số khung nguyên thủy: RLCUG1010LY259590.
- Số máy nguyên thủy: G3D4E1030623
- Xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, không đeo biển kiểm soát:
- Số khung nguyên thủy: RLHJF460XDY348963.
- Số máy nguyên thủy: JF46E - 4247015.
- Không giám định 06 (sáu) biển kiểm soát: 29G1 - 025.60; 29X5 - 173.03; 81T1 - 141.13; 98H1 - 321.34; 29D2 - 922.14; 29G1 - 907.14 do không có mẫu so sánh.
Tại bản Kết luận giám định số 2710KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K3 - Công an Thành phố H kết luận:
Chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 29010561 là chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy giả. (BL 173);
Kết quả điều tra xác định: Do không có công việc ổn định, thiếu tiền tiêu xài, Vũ Duy L rủ rê Lê Quang H4, Đỗ Phi H đi trộm cắp xe máy rồi mang bán lấy tiền chia nhau. Với phương thức và thủ đoạn là các đối tượng đèo nhau trên 01 chiếc
xe máy rồi đi dọc các tuyến phố, nếu phát hiện có xe máy để trên vỉa hè hoặc trước cửa nhà không có người trông coi thì một đối tượng sẽ ngồi trên xe cảnh giới còn 01 đối tượng sẽ trực tiếp trộm cắp. Từ 18/02 đến 26/02/2024, các đối tượng đã thực hiện 03 vụ trộm cắp như sau:
Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 03 giờ 00 ngày 18/02/2024, Vũ Duy L liên hệ với Lê Quang H4 đến đón để đi trộm cắp xe máy. Sau đó, H4 đi xe máy Piagio Liberty màu trắng, đeo BKS: 29G1 – 025.60 đến phòng trọ của L. Đến nơi, H4 để xe lại rồi lấy xe Honda Lead, đeo biển kiểm soát: 29X5-173.03 của L chở L đi trộm cắp. Khi đi đến đoạn trước cửa số nhà G L, quận H thì phát hiện xe máy H9, BKS: 29C1 – 69682 trị giá 11.000.000 đồng của chị Phan Lan A không có người trông coi. L xuống xe thực hiện hành vi trộm cắp còn H4 ngồi trên xe máy cảnh giới. Sau khi trộm cắp được chiếc xe máy, Duy L dắt chiếc xe trên đi theo hướng phố L - C. Khi đến phố C thì Vũ Duy L dừng lại, đấu dây điện đề nổ rồi lên xe bỏ đi. H4 điều khiển xe máy Honda – Lead theo sau. Cả hai mang xe vừa trộm cắp được đến gửi tại bãi giữ xe ở số A N. Sau đó, H4 đèo L về phòng trọ tại ngõ D K rồi đi về. Đến chiều ngày hôm sau, Hoàng qua đón Duy L đi lấy xe đã trộm cắp được rồi cùng nhau mang xuống khu vực Phố V – Cổ Nhuế 2 và bán cho Lã Bá D với giá 4.000.000 đồng. Bán xong, H4 đèo Duy L về phòng trọ, và chia đôi số tiền vừa bán xe mỗi đối tượng được hưởng 2.000.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Ngày 24/02/2024, Duy L rủ Đỗ Phi H đi trộm cắp. Vũ Duy L điều khiển xe máy Honda Lead, màu vàng, BKS: 29X5 – 17303 đến đón H sau đó các đối tượng đi tìm xe máy để sơ hở. Khoảng 03 giờ 46 phút ngày 25/02/2024, trên đường đi phát hiện 01 chiếc xe máy SH Mode, màu trắng, BKS: 99C1 – 256.28 có trị giá 35.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị L3 để trước cửa nhà số D H, phường C, quận H, Hà Nội không có ai trông giữ. L ngồi trên xe cảnh giới còn H xuống xe đi bộ 1 mình áp sát chiếc xe, mở khóa dây và phá khóa xe tuy nhiên do xe bị hỏng ắc quy nên không nổ được máy. Do không nổ được máy nên cả hai đẩy xe máy đến khu vực bờ đê A, để lại xe máy, khóa xe và đi về. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày 25/02/2024, Duy L nói với Nguyễn Diệu L2: “ Vợ ơi, dậy đi lấy xe đưa xuống cho thằng “Q1” với anh” (Q1 là tên gọi khác của Lã Bá D). Sau đó, Duy L và Nguyễn Diệu L2 di chuyển đến khu vực đê A - Â để lấy xe, thay ắc quy vào xe SH Mode rồi cùng nhau đến nhà Lã Bá D tại phố V để bán xe được 7.500.000 đồng. Sau đó, Duy L đưa cho H 4.000.000 đồng, Duy L hưởng lợi 3.500.000 đồng, còn Nguyễn Diệu L2 không được hưởng lợi gì.
Vụ thứ ba:
Tối ngày 26/02/2024, Vũ Duy L gọi Đỗ Phi H rủ đi trộm cắp xe máy. Đến khoảng 02 giờ 45 phút ngày 27/02/2024, L và H phát hiện 01 chiếc xe máy Yamaha Exciter, BKS: 79X1 – 098.79 có giá trị 21.000.000 đồng của anh Nguyễn Thiện V để trước cửa nhà số B ngõ T, phường H, quận H, Hà Nội không có ai trông giữ. H đi bộ 1 mình áp sát chiếc xe và dùng chìa khoá xe máy (đã chuẩn bị từ trước) để mở khoá xe, còn L đứng gần đó cảnh giới. Sau khi mở được khoá xe,
H lên xe và phóng đi, L đi xe đuổi theo. Cả hai di chuyển đến bãi gửi xe tại A N, quận T, Hà Nội để gửi xe chiếc xe máy Yamaha Exciter. Sau khi gửi xe xong, H đưa vé xe cho L và nói vị trí để xe rồi cả hai đi về nhà. Sáng ngày 27/02/2024, Vũ Duy L gọi điện cho Lê Quang H4 nhờ chở đến bãi xe để lấy xe mang đi bán thì H4 đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Quang H4 sử dụng xe máy Honda Lead, màu vàng, BKS: 29X5 – 173.03 chở Vũ Duy L đến bãi xe. Tại bãi gửi xe, Duy L đưa vé xe cho H4 để H4 vào lấy xe. Sau đó, Duy L điều khiển xe Exciter còn H4 điều khiển xe Honda Lead đi đến khu vực phố V bán xe cho Lã Bá D được 5.500.000 đồng. L đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này và chưa chia cho H, H4.
Tại cơ quan điều tra, Vũ Duy L khai: Duy L thừa nhận hành vi trộm cắp 03 xe máy vào các ngày 18/02/2024, 25/02/2024, 27/02/2024. Sau khi trộm cắp được, Duy L cùng H4, Diệu L2, H mang đến chỗ Lã Bá D tiêu thụ. Đối với các tang vật bị Cơ quan điều tra thu giữ, Duy L khai: Áo mưa, mũ bảo hiểm, ổ khóa, kìm cắt, ... là trang phục, công cụ, phương tiện Duy L dùng trong quá trình trộm cắp; 03 chiếc xe máy thu giữ của Vũ Duy L là của Duy L mua của một người không quen biết, không biết là tài sản do người khác phạm tội mà có; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2203 là của Duy L dùng để liên lạc với các đối tượng khác để trộm cắp và tiêu thụ tài sản. Toàn bộ số tiền bán tài sản trộm cắp được, L đã tiêu xài cá nhân hết.
Nguồn gốc với chiếc xe Honda SH Duy L đưa cho anh Lê Nhật T2 để bán lại cho anh Lưu Văn H3, Duy L khai mua của 01 người không quen biết. Khi mua xe thì chiếc xe đã bị chủ trước dán sẵn decan đổi màu sơn xe từ màu đỏ-đen sang màu đen nhưng Duy L kiểm tra thấy số khung, số máy nguyên thủy, màu gốc của xe trùng với giấy đăng ký xe do người bán cung cấp nên vẫn đồng ý mua. Duy L không biết chiếc xe là tài sản do người khác phạm tội mà có. Duy L đã nhận 66.000.000 đồng tiền bán xe từ anh Lê Nhật T2, số tiền này Duy L đã tiêu sài cá nhân hết.
Lê Quang H4 khai nhận: H4 thừa nhận cùng Duy L trộm cắp 01 xe máy Honda Wave ngày 17/02/2024 tại số G L, quận H, Hà Nội. Sau khi bán xe cho Lã Bá D được 4.000.000 đồng, H4 được chia 2.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 27/02/2024, khi được Duy L nhờ đi cùng đến bãi gửi xe ở A N để mang đến cho Lã Bá D thì H4 biết chiếc xe Exciter là tài sản trộm cắp nhưng vẫn đồng ý giúp Duy L mang xe đi tiêu thụ. H4 không được hưởng lợi gì trong việc giúp Duy L mang xe đi tiêu thụ.
Đỗ Phi H khai nhận: H thừa nhận cùng Vũ Duy L đi trộm cắp xe máy vào ngày 25/02/2024 và 27/02/2024. Cả hai lần, H là người trực tiếp lấy trộm xe, còn Duy L ở ngoài hỗ trợ cảnh giới. H được Duy L chia cho 4.000.000 đồng tiền bán xe Honda SH Mode, còn chiếc xe Exciter Hùng chưa được hưởng lợi gì. Chiếc chìa khóa dùng làm công cụ để phá khóa xe là của H nhặt được hiện đã vứt đi không xác định ở đâu.
Nguyễn Diệu L2 khai nhận: Diệu L2 biết xe máy Honda SH, màu trắng, BKS: 99C1 – 256.28 là xe Vũ Duy L trộm cắp mà có tuy nhiên khi được Duy L nhờ thì Diệu L2 vẫn chở đi lấy xe sau đó cùng Duy L đi bán xe trộm cắp cho Lã Bá D. Diệu L2 không biết việc Vũ Duy L trộm cắp các chiếc xe khác do Duy L không kể và không mang tài sản trộm cắp về nhà.
Tại cơ quan điều tra, Lã Bá D khai: Khi mua xe máy từ nhóm Duy L, H và H4, D thấy các xe máy trên đều không có giấy tờ, ổ khóa có dấu hiệu bị phá nên biết 03 (ba) xe máy kể trên mà Duy L bán đều là xe trộm cắp tuy nhiên vẫn mua vì ham rẻ. Đối với xe máy Honda Wave, màu xanh, BKS: 29C1 – 69682, Lã Bá D bán cho một người tên Đ ở Quảng Bình, sử dụng số điện thoại “0869.725.xxx” được 6.700.000 đồng, thu lợi bất chính 2.700.000 đồng. Trước đây người này từng dùng số tài khoản 5320919608, Ngân hàng B, mang tên NGUYEN THI HOA để thanh toán tiền mua bán xe với D. Đối với xe máy Honda SH Mode, màu trắng, BKS: 99C1 – 256.28, Lã Bá D bán cho một người không quen biết, không rõ nhân thân lai lịch được 10.000.000 đồng, thu lợi bất chính 2.500.000 đồng. Đối với xe máy Yamaha Exciter màu đen, BKS: 79X1 – 098.79, Lã Bá D chưa kịp tiêu thụ.
Anh Lê Nhật T2 khai: T2 không biết chiếc xe Honda SH Duy L đưa nhờ bán hộ là tài sản do người khác phạm tội mà có, khi nhờ bán xe thì T2 thấy xe có đầy đủ giấy tờ nên đã nhờ một người bạn quen trên mạng sử dụng tài khoản fb “Hải Kim” đăng tin giao bán xe. Sau khi anh H3 liên hệ mua xe thì T2 và Duy L mang xe đến bán cho anh H3 với giá 66.000.000 đồng. Sau khi bán được xe, anh T2 đã đưa toàn bộ số tiền bán xe cho Duy L. Quá trình điều tra do không có căn cứ xác định Lê Nhật T2 biết chiếc xe Honda SH là tài sản do người khác phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý.
Chị Nguyễn Thị H5 (Sinh năm 1972: Trú tại: phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình) khai: Số tài khoản 5320919608, Ngân hàng B, mang tên NGUYEN THI HOA là số tài khoản của chị H5. Nhưng chị H5 không sử dụng mà cho anh Nguyễn Văn T4 sử dụng. Chị H5 không biết, không liên quan đến các giao dịch phát sinh liên quan đến tài khoản trên (BL 429-432);
Anh Nguyễn Văn T4 (Sinh năm 1994; Trú tại: phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình) khai: Số tài khoản 5320919608, Ngân hàng B, mang tên NGUYEN THI HOA là số tài khoản của mẹ anh T4, do anh T4 quản lý sử dụng. Anh T6 thường xuyên nhận chuyển tiền hộ những người khác để thu phí nên không biết ai là người nhờ T6 chuyển tiền vào số tài khoản của Lã Bá D. Anh T6 không biết, chưa từng mua xe của Lã Bá D.
Tháng 6 năm 2023, anh T6 có mua 01 xe máy Honda WaveS, BKS: 98H1 – 312.34 của người không rõ nhân thân lai lịch với giá 9.000.000 đồng. Khi mua không kí kết hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, trong quá tình sử dụng anh T6 kiểm tra thì phát hiện số khung số máy của xe đã bị tẩy xóa nên đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra để tiến hành xác minh làm rõ. Kết quả giám định xác định vị trí số khung có dấu vết tẩy xóa, xác định số khung nguyên thủy của xe là:
RLHJA3926NY?...? (Ký tự "?" không xác định được); Vị trí số máy có dấu vết tẩy xóa, xác định số máy nguyên thủy của xe là: JA39E - ?...? (Ký tự "?" không xác định được). Số khung, số máy của xe khác với số khung, số máy được cấp cho xe Honda Wave Alpha có BKS: 29C1 – 696.82, Số khung: 3907HY531649, Số máy: JA39E0506802 của chị Phan Lan A bị Vũ Duy L và đồng bọn trộm cắp sau đó đưa cho Lã Bá D tiêu thụ. Kiểm tra tài khoản của Lã Bá D chỉ có 01 giao dịch nhận 13.300.000 đồng từ tài khoản 5320919608, Ngân hàng B vào ngày 30/12/2023. Sau ngày 30/12/2023, giữa hai tài khoản không phát sinh giao dịch. Không có căn cứ xác định anh Nguyễn Văn T4 có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý. Anh T6 không có yêu cầu gì đối với chiếc xe.
Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo đến nay chưa xác định chủ sở hữu, mặt khác do không truy nguyên được số khung, số máy của chiếc xe nên chuyển chiếc xe thu giữ của anh T6 đến Tòa án để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 28/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra quyết định xử lí vật chứng trao trả chiếc xe máy Yamaha Exciter màu đen cho anh Nguyễn Thiện V, anh V đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường dân sự.
Chị Phan Lan A yêu cầu bồi thường số tiền 11.000.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị L3 yêu cầu bồi thường số tiền 35.000.000 đồng.
Anh Lưu Văn H3 yêu cầu bồi thường số tiền 66.000.000 đồng, là tiền anh H3 đã mua chiếc xe máy Honda SH, SK: RLHKF4213MY017063, SMP: KF42E1064508 từ L.
Đối với 01 (một) xe máy Honda AirBlade màu đen không đeo biển kiểm soát thu giữ của Vũ Duy L. Vũ Duy L khai mua xe của một người không quen biết và không có giấy đăng ký xe. Qua giám định xác định số khung, số máy nguyên thủy. Tiến hành tra cứu xác định chủ xe là chị Nguyễn Thị H6 (Sinh năm 1982; Trú tại: thôn Y, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai). Chị H6 khai đã bán cho một người không quen biết. Xe không có trong dữ liệu xe tang vật. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo đến nay chưa tìm được chủ sở hữu, chuyển chiếc xe trên đến Tòa án để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với 01 xe máy Honda – SH 150 màu đỏ đen, gắn BKS: 29D2 – 92214 đã qua sử dụng cùng 01 giấy đăng ký xe mang tên Lưu Mạnh T5 (là đăng kí xe giả). Sau khi được Vũ Duy L nhờ bán xe, Lê Nhật T2 nhờ một người bạn tên H7 (không rõ nhân thân lai lịch sử dụng facebook “Hai Kim”) đăng bán hộ. Sau đó, H7 nói cho T2 biết có anh Lưu Văn Hiệp Đ1 mua xe. Ngày 12/12/2023, T2 đi cùng một người bạn xã hội tên N1 (không rõ nhân thân lai lịch) đến điểm hẹn với H7 bán xe cho anh H3 với giá 66.000.000 đồng. Quá trình mua bán, H7 chỉ giúp T2 giới thiệu khách còn H7 không biết, không liên quan đến việc mua bán xe của T2. T2 đã đưa hết 66.000.000 đồng tiền bán xe cho Duy L và không được hưởng lợi gì.
Cơ quan điều tra đã cho anh Lưu Văn H3 nhận dạng, anh H3 chỉ nhận dạng được T2 là người đã bán xe cho anh H3. Duy L khai nguồn gốc xe mua của 01 người không quen biết, khi mua kèm theo đăng ký xe mang tên Lưu Mạnh T5. Tiến hành giám định xác định xe có số khung, số máy nguyên thủy. Chủ xe là anh Biện Xuân Q (Sinh năm 1991: Trú tại: Thôn Á, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh). Cơ quan điều tra đã làm việc với anh Biện Xuân Q xác định: Ngày 25/7/2022, anh Biện Xuân Q để chiếc xe máy trên tại nhà riêng ở Thôn Á, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và bị kẻ gian trộm cắp. Sau đó, anh Q đã đến Công an xã Đ trình báo. Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã tách, chuyển chiếc xe trên, giấy đăng kí xe và tài liệu liên quan đến cơ quan CSĐT – Công an huyện T, Bắc Ninh để tiếp tục điều tra làm rõ.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu vàng, đeo BKS: 29X5 – 17303, đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Duy L. Vũ Duy L khai mua xe của một người không quen biết và không có giấy đăng ký xe. Qua giám định xác định số khung, số máy nguyên thủy. Tiến hành tra cứu xác định chủ xe là chị Nguyễn Thủy T7 (Sinh năm 1993; Trú tại: Tổ A, phường V, quận L, Hà Nội). Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, chị T7 trình bày vào ngày 13/02/2024, chồng chị là anh Nguyễn Quang K1 (Sinh năm 1985; Trú tại: Tổ B, phường T, quận H, Hà Nội) để xe ở trước cửa nhà số A N, phường T, quận H, Hà Nội thì bị trộm mất. Sau khi phát hiện mất xe, anh K1 có đến Công an phường T báo mất tuy nhiên chưa làm thủ tục trình báo. Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã tách, chuyển chiếc xe trên và tài liệu liên quan đến cơ quan CSĐT – Công an quận H để tiếp tục điều tra làm rõ.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Namotor, số loại: Gogoro, màu đỏ xám, không đeo Biển kiểm soát, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Nhật T2. T2 khai mượn của Vũ Duy L để đi lại và không biết nguồn gốc của xe. Vũ Duy L khai mua xe của một người không quen biết và không có giấy đăng ký xe. Qua giám định xác định số khung, số máy nguyên thủy. Tiến hành tra cứu chủ sở hữu qua số khung số máy không có dữ liệu. Qua trao đổi với với hãng xe NAMOTOR xác định người mua xe là chị Nguyễn Thủy T7 (Sinh năm 1994; Trú tại: Số B ngách 5/17/15, Tổ A, phường D, quận C, Hà Nội). Cơ quan Công an đã mời chị T7 đến làm việc, xác định chị T7 mua xe kể trên tuy nhiên chưa làm thủ tục đăng ký xe. Đêm ngày 17/01/2024, rạng sáng ngày 18/01/2024, chị T7 để xe máy trên sát vỉa hè đường X, phường D, quận C, Hà Nội sau đó bị trộm cắp. Chị T7 đã đến Công an phường D, quận C, Hà Nội thông báo về việc mất xe. Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã tách, chuyển chiếc xe trên và tài liệu liên quan đến cơ quan CSĐT – Công an quận C để tiếp tục điều tra làm rõ.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ, đeo BKS: 81T1–14113, đã qua sử dụng. Vũ Duy L khai mua của một người không quen biết. Qua giám định xác định số khung, số máy nguyên thủy. Tiến hành tra cứu xác định chủ xe là ông Hoàng Văn T8 (Sinh năm 1976; Trú tại: G, xã P, huyện K, thành phố Hải Phòng).
Cơ quan điều tra đã làm việc với anh anh Hoàng Xuân N1 (Sinh năm 1999: Trú tại: Thôn G, xã P, huyện K, thành phố Hải Phòng) – con trai của ông Hoàng Văn T8 xác định: Ngày 25/02/2024, anh Hoàng Xuân N1 để chiếc xe máy tại khu vực cửa hàng C - A Hồ N, phường B, quận H, Hà Nội và bị kẻ gian trộm cắp mất, tuy nhiên do bận việc nên anh N1 chưa trình báo. Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã tách, chuyển chiếc xe trên và tài liệu liên quan đến cơ quan CSĐT – Công an quận H để tiếp tục điều tra.
Đối với 01 (một) xe máy Piagio Liberty màu trắng, đeo Biển kiểm soát: 29G1 – 025.60 thu giữ của Lê Quang H4. Qua giám định xác định số khung, số máy nguyên thủy. Xe thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thu H8 (Sinh năm 1972; Trú tại: Số A Đ, quận B, Hà Nội – mẹ của H4). Bà H8 cho H4 mượn xe để đi lại. Bà H8 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của H4 nên cơ quan điều tra không xử lý.
Ngày 28/5/2024, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lí vật chứng trao trả lại xe cho bà H8, bà H8 đã nhận lại xe và không có yêu cầu khác về dân sự. (BL 536)
Đối với đối tượng tên “Đ” sử dụng số điện thoại 0869.725.xxx. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh xác định chủ thuê bao là anh Nguyễn K2 (Sinh năm 1965; Trú tại: C, C, C, Quảng Trị). Anh K2 khai anh K2 không sử dụng số điện thoại trên và không rõ nguyên nhân thông tin anh K2 bị sử dụng đăng ký số điện thoại trên. Tại cơ quan điều tra, Lã Bá D khai chưa từng gặp đối tượng tên Đ, Bá D không biết nhân thân lai lịch của Đ. Ngoài lời khai của D, cơ quan điều tra không thu thập thêm được tài liệu nào khác nên không có căn cứ mở rộng điều tra.
Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Vũ Duy L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Đỗ Phi H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Lê Quang H4 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Lã Bá D và Nguyễn Diệu L2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Ngày 20/9/2024, chị Lã Thị T3, sinh năm 1989; Trú tại: Số A P, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định là chị ruột của bị cáo Lã Bá D có Đơn gửi Toà án đề ngày 20/9/2024, nội dung đề nghị xin được tự nguyện nộp thay cho bị cáo số tiền thu lợi bất chính 5.200.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền trên.
Tại phiên toà,
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Anh Lưu Văn H3 đề nghị bị cáo Vũ Duy L bồi thường số tiền 66.000.000 đồng tiền mua chiếc xe Honda SH của L. Bị cáo Vũ Duy L nhận trách nhiệm sẽ bồi thường số tiền 66.000.000 đồng cho anh H3.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
- + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Duy L từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
- + Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; Điều 17 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Phi H từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 42 tháng tù chưa thi hành của bản án số 288/2023/HSST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội; hình phạt chung từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 17 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quang H4 từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. 08 đến 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt chung của 2 tội từ 20 tháng đến 27 tháng tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lã Bá D từ 09 đến 13 tháng tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Diệu L2 từ 07 đến 10 tháng tù.
Vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) áo mưa màu tím đã qua sử dụng.
- - 02 (hai) mũ bảo hiểm đen họa tiết trắng đã qua sử dụng.
- - 03 (ba) ổ khóa chữ U đã qua sử dụng.
- - 04 (bốn) ổ khóa xe máy các loại đã qua sử dụng.
- - 02 (hai) kìm thủy lực các kích thước đã qua sử dụng.
- - 03 (ba) xà beng kim loại các kích thước đã qua sử dụng.
- - 02 (hai) kìm cắt kim loại các kích thước đã qua sử dụng.
- - 01 (một) giũa màu kim loại đã qua sử dụng.
- - 04 (bốn) công cụ phá khóa đã qua sử dụng.
- - 01 (một) đèn pin laze đã qua sử dụng.
- - 01 (một) áo sơ mi màu đen và 01 (một) quần dài đen trắng.
- - 01 (một) áo khoác có mũ màu cam có viền tay màu trắng.
- - 01 (một) quần nỉ dài màu đen.
- - 01 (một) đôi giày.
- - Các sim điện thoại bị thu giữ
Tịch thu sung công:
- - 01 (một) xe máy Honda Wave, đeo Biểm kiểm soát: 98H1-312.34, đã qua sử dụng. Qua giám định xác định S khung nguyên thủy: RLHJA3926NY?...? (Ký tự ? không xác định được), Số máy nguyên thủy: JA39E-?...?(Ký tự ? không xác định được). (Do không xác định được nguồn gốc. Sau khi đăng báo 01 năm thì tịch thu xung công theo quy định)
- - Xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, không đeo biển kiểm soát; Số khung nguyên thủy: RLHJF460XDY348963; Số máy nguyên thủy: JF46E - 4247015. (Do L2 không chứng minh được nguồn gốc. Sau khi đăng báo 01 năm thì tịch thu xung công theo quy định)
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu xám, dung lượng 256GB, số Imei: 357265092744273, phần màn hình điện thoại và phần lưng điện thoại có nhiều vết xước, nứt vỡ, cũ và đã qua sử dụng
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen, dung lượng 64GB, số Imeil: 865390055016587, số Imei2: 865390055016595, phần màn hình điện thoại và lưng điện thoại nhiều vết xước, nứt vỡ, cũ và đã qua sử dụng.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2203, màu đen, số Imeil: 84798890588, số Imei2: 84845024961, phần màn hình điện thoại và phần lưng điện thoại có nhiều vết xước, nứt vỡ, cũ và đã qua sử dụng
- - 01 (một) điện thoại Iphone 7 màu đen, dung lượng 32GB đã qua sử dụng.
- - Trả lại Lã Bá D 01 điện thoại Iphone 11 Pro max màu xám, dung lượng: 64GB, đã cũ đã qua sử dụng.
- - Trả lại Nguyễn Diệu L2 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, dung lượng 64GB, số Imei: 352901117374291, cũ và đã qua sử dụng.
- - Yêu cầu Lã Bá D nộp lại 5.200.000 đồng số tiền thu lợi bất chính.
- - Yêu cầu Vũ Duy L nộp lại 5.500.000 đồng số tiền thu lợi bất chính từ việc bán chiếc xe Yamaha Exciter, BKS: 79X1 – 098.79
Về dân sự:
- - Yêu cầu Vũ Duy L và Lê Quang H4 mỗi bị cáo bồi thường 5.500.000 đồng cho chị Phan Lan A để bồi thường chiếc xe máy xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, BKS: 29C1 – 69682 trị giá 11.000.000 đồng của chị Phan Lan A.
- - Yêu cầu Vũ Duy L và Đỗ Phi H mỗi bị cáo bồi thường 17.500.000 đồng cho chị Nguyễn Thị L3 để bồi thường 01 xe máy nhãn hiệu SH Mode màu trắng, BKS: 99C1 – 256.28 trị giá 35.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị L3.
- - Yêu cầu Vũ Duy L trả lại anh Lưu Văn H3 số tiền 66.000.000 đồng.Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo Vũ Duy L, Đỗ Phi H, Lê Quang H4, Lã Bá D, Nguyễn Diệu L2 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ ngày 18/02/2024, Vũ Duy L và Lê Quang H4 có hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, BKS: 29C1 – 69682 trị giá 11.000.000 đồng của chị Phan Lan A để trước cửa số G L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Sau khi trộm cắp chiếc xe trên, Duy L và H4 mang xe bán cho Lã Bá D được 4.000.000 đồng, cả hai chia nhau mỗi người được 2.000.000 đồng. Sau đó D bán chiếc xe trên với giá 6.700.000 đồng, D thu lợi bất chính 2.700.000 đồng. Hiện chiếc xe không thu hồi được.
Khoảng 03 giờ 46 phút ngày 25/02/2024, Vũ Duy L và Đỗ Phi H có hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu SH Mode màu trắng, BKS: 99C1 – 256.28 trị giá 35.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị L3 để trước cửa số D H, phường C, quận H, Hà Nội. Nguyễn Diệu L2 mặc dù biết rõ nguồn gốc chiếc xe SH Mode là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn giúp Vũ Duy L mang xe đến bán cho Lã Bá D ngày 25/02/2024 được được 7.500.000 đồng. H được hưởng lợi 4.000.000 đồng, Duy L hưởng lợi 3.500.000 đồng. Diệu L2 không được hưởng lợi. Sau đó Lã Bá D bán chiếc xe trên được 10.000.000 đồng, thu lợi bất chính 2.500.000 đồng. Hiện chiếc xe không thu hồi được.
Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 27/02/2024, Vũ Duy L và Đỗ Phi H có hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, BKS: 79X1 – 098.79 trị giá 21.000.000 đồng của anh Nguyễn Thiện V tại khu vực số B ngõ T, phường H, quận H, Hà Nội. Lê Quang H4 mặc dù biết rõ chiếc xe Yamaha Exciter là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn giúp Vũ Duy L mang xe đến bán cho Lã Bá D ngày 27/02/2024 được 5.500.000 đồng. L đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này, H4 không được hưởng lợi. Chiếc xe đã được thu hồi trao trả cho bị hại.
Tổng trị giá tài sản bị cáo Vũ Duy L trộm cắp là 67.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo Lê Quang H4 trộm cắp là 11.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo Đỗ Phi H trộm cắp là 56.000.000 đồng.
Ngày 18/02/2024, 25/02/2024 và 27/02/2024, Lã Bá D có hành vi tiêu thụ 03 xe máy do Vũ Duy L, Đỗ Phi H và Lê Quang H4 trộm cắp được. Tổng giá trị số tài sản do phạm tội mà có, Lã Bá D tiêu thụ là 67.000.000 đồng; thu lợi bất chính số tiền là 5.200.000 đồng.
Như vậy, hành vi của các bị cáo Vũ Duy L, Đỗ Phi H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Đỗ Phi H có 04 tiền án chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo còn thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Lê Quang H4 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự;
Hành vi của bị cáo Lã Bá D, Nguyễn Diệu L2 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự;
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo Vũ Duy L, Đỗ Phi H, Lê Quang H4 đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an tại địa phương gây bất bình trong nhân dân. Các bị cáo đều là người có đủ nhận thức, sức khoẻ nhưng không chịu lao động lương thiện, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu sài. Nhân thân các bị cáo H, L, H4 đều đã bị xử lý hình sự nhưng không lấy đó làm bài học tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, do đó cần thiết phải xử phạt tù nghiêm cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
Về vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét hành vi của các bị cáo L, H, H4 có tình chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Vũ Duy L là người giữ vai trò chính, khởi xướng, trực tiếp tham gia cả 03 vụ và hưởng lợi nhiều nhất; bị cáo Đỗ Phi H tham gia và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp 02 vụ, nhưng phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” nên có vai trò, tính chất cũng tương đương bị cáo L, ngoài ra bị cáo còn chưa chấp hành hình phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 288/2023/HSST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, nên cần áp dụng Điều
56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt; bị cáo H4 tham gia 01 vụ, hưởng lợi ít nhất nên vai trò thấp nhất.
Hành vi của các bị cáo Lã Bá D, Lê Quang H4, Nguyễn Diệu L2 đã xâm phạm trật tự công cộng, các bị cáo nhận thức được tài sản đem đi mua bán, tiêu thụ là do phạm tội mà có nhưng vẫn tiếp tay, mua bán hoặc giúp sức cho việc tiêu thụ. Bị cáo D 03 lần tiêu thụ, hưởng lợi tổng số tiền 5.200.000 đồng nên tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội cao hơn hai bị cáo H4, L2. Hai bị cáo này dù không được hưởng lợi nhưng đã có hành vi giúp sức trong việc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có nên cũng cần phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.
[3] Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Vũ Duy L có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này còn thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Vũ Duy L, Đỗ Phi H, Lã Bá D còn phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Diệu L2, Lê Quang H4 không có tình tiết tăng nặng tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ:
Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Diệu L2 được hưởng thêm tình tiết “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Gia đình bị cáo Lã Bá D đã tự nguyện nộp thay bị cáo số tiền thu lời bất chính là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo;
Xét thấy bị cáo D, L2 đều đã bị tạm giam một thời gian gần 07 tháng cũng đã tương xứng với mức độ hành vi phạm tội và đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly hai bị cáo trên nữa mà xử phạt các bị cáo một hình phạt tù bằng với thời gian đã bị tạm giam thể hiện tính nhân đạo của pháp luật
Căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên trả tự do cho bị cáo Nguyễn Diệu L2 và Lã Bá D ngay tại phiên toà nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại cơ quan điều tra, người bị hại gồm:
Chị Phan Lan A có yêu cầu bồi thường thiệt hại 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, BKS: 29C1 – 69682 trị giá là 11.000.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị L3 có yêu cầu bồi thường thiệt hại 01 xe máy nhãn hiệu SH Mode màu trắng, BKS: 99C1 – 256.28 trị giá là 35.000.000 đồng.
Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 588, 589 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Vũ Duy L và bị cáo Lê Quang H4 cùng liên đới bồi thường số tiền 11.000.000 đồng cho chị Phan Lan A. Chia phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho chị Phan Lan A số tiền 5.500.000 đồng.
Buộc bị cáo Vũ Duy L và bị cáo Đỗ Phi H cùng liên đới bồi thường số tiền 35.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị L3. Chia phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị L3 số tiền 17.500.000 đồng.
Đối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lưu Văn H3 yêu cầu bồi thường số tiền 66.000.000 đồng, là tiền anh H3 đã mua chiếc xe máy Honda SH, SK: RLHKF4213MY017063, SMP: KF42E1064508 từ L:
Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ tài liệu điều tra thì Vũ Duy L khai nguồn gốc xe mua của 01 người không quen biết, khi mua kèm theo đăng ký xe mang tên Lưu Mạnh T5. Kết quả giám định xác định xe có số khung, số máy nguyên thủy. Chủ xe là anh Biện Xuân Q (Sinh năm 1991; Trú tại: Thôn Á, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh). Cơ quan điều tra đã làm việc với anh Biện Xuân Q xác định: Ngày 25/7/2022, anh Biện Xuân Q để chiếc xe máy trên tại nhà riêng ở Thôn Á, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và bị kẻ gian trộm cắp. Sau đó, anh Q đã đến Công an xã Đ trình báo. Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã tách, chuyển chiếc xe trên, giấy đăng kí xe và tài liệu liên quan đến cơ quan CSĐT – Công an huyện T, Bắc Ninh để tiếp tục điều tra làm rõ.
Chiếc xe máy trên, Vũ Duy L có nhờ Lê Nhật T2 bán hộ. Ngày 12/12/2023, anh H3 thoả thuận mua xe với T2 với giá 66.000.000 đồng. T2 đã đưa hết 66.000.000 đồng tiền bán xe cho Duy L và không được hưởng lợi gì.
Xét thấy, căn cứ lời khai của Vũ Duy L và Lê Nhật T2 thì việc anh T2 đứng ra bán chiếc xe máy trên cho anh H3 là do L nhờ. Sau khi bán được xe, anh T2 đã đưa toàn bộ số tiền bán xe cho Vũ Duy L và không được hưởng lợi gì. Tại phiên toà, anh Lưu Văn H3 trình bày yêu cầu bị cáo L phải bồi thường trả lại anh số tiền 66.000.000 đồng, bị cáo Vũ Duy L xác nhận trách nhiệm sẽ bồi thường trả cho anh H3 số tiền trên. Do đó cần buộc bị cáo Vũ Duy L phải hoàn trả lại cho anh Lưu Văn H3 số tiền 66.000.000 đồng.
[6] Về biện pháp tư pháp:
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) xe máy Honda Wave, đeo Biểm kiểm soát: 98H1-312.34, đã qua sử dụng. Qua giám định xác định S khung nguyên thủy:
RLHJA3926NY?...? (Ký tự ? không xác định được), Số máy nguyên thủy: JA39E-?...? (Ký tự ? không xác định được) do không xác định được chủ sở hữu;
+ Đối với 01 (một) xe máy Honda Airblade màu đen, không đeo Biểm kiểm soát, số khung nguyên thủy của xe là: RLHJA460XDY348963, số máy nguyên thủy của xe: JF46E-4247015.
Căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự cần tiếp tục thông báo công khai để xác định chủ sở hữu, nếu sau thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo mà không xác định được chủ sở hữu thì được sung quỹ nhà nước.
+ Đối với 03 sim điện thoại đã qua sử dụng + 01 Biển kiểm soát 98H1-321.34 đã cũ, chất lượng, hiện trạng không rõ + 01 (một) áo mưa màu + 02 (hai) mũ bảo hiểm đen họa tiết trắng + 03 (ba) ổ khóa chữ U + 04 (bốn) ổ khóa xe máy các loại + 02 (hai) kìm thủy lực các kích thước + 03 (ba) xà beng kim loại các kích thước + 02 (hai) kìm cắt kim loại các kích thước + 01 (một) giũa màu kim loại + 04 (bốn) công cụ phá khóa + 01 (một) đèn pin laze + 01 (một) áo sơ mi màu đen và 01 (một) quần dài đen trắng + 01 (một) áo khoác có mũ màu cam có viền tay màu trắng + 01 (một) quần nỉ dài màu đen + 01 (một) đôi giày đều đã qua sử dụng, xét đều là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội hoặc không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;
+ Đối với 04 điện thoại thu giữ của các bị cáo gồm:
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu xám, dung lượng 256GB, số Imei: 357265092744273, phần màn hình điện thoại và phần lưng điện thoại có nhiều vết xước, nứt vỡ, cũ và đã qua sử dụng;
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen, dung lượng 64GB, số Imeil: 865390055016587, số Imei2: 865390055016595, phần màn hình điện thoại và lưng điện thoại nhiều vết xước, nứt vỡ, cũ và đã qua sử dụng.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2203, màu đen, số Imeil: 84798890588, số Imei2: 84845024961, phần màn hình điện thoại và phần lưng điện thoại có nhiều vết xước, nứt vỡ, cũ và đã qua sử dụng;
- - 01 (một) điện thoại Iphone 7 màu đen, dung lượng 32GB đã qua sử dụng;
Có liên quan hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước;
Đối với 01 điện thoại Iphone 11 Pro max màu xám, dung lượng: 64GB, đã cũ đã qua sử dụng thu của bị cáo Lã Bá D và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, dung lượng 64GB, số Imei: 352901117374291, cũ và đã qua sử dụng thu của bị cáo Nguyễn Diệu L2, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho hai bị cáo.
+ Truy thu buộc bị cáo Lã Bá D phải nộp lại số tiền thu lời bất chính 5.200.000 đồng để sung quỹ nhà nước (Trừ vào số tiền 5.200.000 đồng do chị ruột bị cáo đã nộp thay tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên lai thu số 0006386 ngày 20/9/2024);
+ Truy thu buộc bị cáo Vũ Duy L phải nộp lại số tiền thu lời bất chính 5.500.000 đồng từ việc bán 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, BKS: 79X1 – 098.79 để sung quỹ nhà nước;
[7] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo Vũ Duy L, Đỗ Phi H, Lê Quang H4 còn phải chịu án phí dân sự đối với số tiền phải bồi thường cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định;
Bị cáo Vũ Duy L phải chịu số tiền án phí dân sự là 4.450.000 đồng;
Bị cáo Đỗ Phi H phải chịu số tiền án phí dân sự là 875.000 đồng;
Bị cáo Lê Quang H4 phải chịu số tiền án phí dân sự là 300.000 đồng;
[11] Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Thắng |
Bản án số 185/2024/HS-ST ngày 21/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 185/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
