TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:185/2024/HS-ST Ngày 20-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Minh – Cán bộ hưu trí thị trấn An Dương
- Bà Hà Thị Hoài Khuyên – Nguyên giáo viên
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Cà Văn H, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1998 tại Sơn La; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Ngoạng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Chỗ ở: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn Y và bà Cà Thị M; có vợ là Quàng Thị L, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 17/4/2024, tạm giam ngày 23/4/2024; có mặt.
- Lò Văn P, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2004 tại Sơn La; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản H, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La; Chỗ ở: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T và bà Lò Thị P1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 17/4/2024, tạm giam ngày 23/4/2024; có mặt.
- Cà Văn T1, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2006 tại Sơn La (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 6 tháng 14 ngày); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Chỗ ở: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn T2 và bà Lò Thị D; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 17/4/2024, tạm giam ngày 23/4/2024; có mặt
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Cà Văn T1: Bà Lò Thị D, sinh năm 1983; địa chỉ: Số A ngõ D đường E cũ, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bào chữa của bị cáo Cà Văn T1: Bà Đoàn Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H: Ông Nguyễn Văn M1 – Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 12 giờ ngày 17/4/2024, tổ công tác Công an huyện A làm nhiệm vụ trên địa bàn xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng phát hiện tại khu nhà trọ ở thôn H, xã H, một số đối tượng có biểu hiện mua bán trái phép chất ma tuý. Tổ công tác tiến hành kiểm tra bắt quả tang Cà Văn H, Lò Văn P, Cà Văn T1, sinh ngày 03/10/2006 đang có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho một nam thanh niên. Khi lực lượng Công an đến thì đối tượng này bỏ chạy thoát. Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy trong lòng bàn tay của T1, kích thước 01x02 cm (QT01), bên trong chứa chất bột màu trắng, thu giữ tại nền đất cạnh vị trí T1 đứng một tờ tiền 200.000 đồng, thu giữ trong ba lô của H 06 gói giấy kích thước 01x02cm (QT02), bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon kích thước 07x10cm (QT03), bên trong chứa chất bột màu trắng. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cà Văn H tại thôn H, xã H thu giữ: 01 dao lam; 02 tờ giấy trắng kích thước 04x04cm; 01 cân tiểu ly và số tiền 2.000.000 đồng. H đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng đã qua sử dụng.
Bản Kết luận giám định số 480/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng mẫu QT01 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,06 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng mẫu QT02 gửi giám định là ma tuý có khối lượng 1,46 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng mẫu QT03 gửi giám định là ma tuý có khối lượng 14,17 gam, loại Heroine.
Quá trình điều tra Cà Văn H, Lò Văn P, Cà Văn T1 khai nhận: Khoảng giữa tháng 03 năm 2024, H và T1 đến ở trọ cùng P tại thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng. Do đều nghiện ma túy nên H thống nhất với T1 và P, H sẽ bỏ tiền đi mua ma túy heroine về chia nhỏ, P có nhiệm vụ cắt giấy và đóng gói, còn T1 mang đi bán. H trả công cho P, T1 bằng cách thỉnh thoảng cho tiền và cho ma túy để sử dụng. Ngày 16/4/2024, H ra khu vực thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 02 “chỉ” ma túy Heroine hết 8.000.000 đồng rồi mang về phòng trọ, dùng dao lam chia nhỏ và cân ma túy, P cắt giấy đóng thành 07 gói nhỏ. Sau đó, H để cả 07 gói ma túy và 01 túi ma túy chưa chia cho vào trong ba lô, treo trên tường, rồi bảo T1 có ai mua thì bán 200.000 đồng/01 gói. Đến khoảng hơn 12 giờ ngày 17/4/2024, khi H, T1, P đang ở trong phòng trọ thì có tài khoản zalo “trai Xứ T3” gọi đến điện thoại của H, T1 nghe máy có người nam giới hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine, T1 đồng ý và hẹn đến cổng dãy trọ. Sau đó, T1 lấy 01 gói ma túy trong ba lô của H mang ra điểm hẹn để bán thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số 196/CT-VKSAD ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Cà Văn H, Lò Văn P và Cà Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo Cà Văn H, Lò Văn P và Cà Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Cà Văn H, Lò Văn P và Cà Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Cà Văn H, Lò Văn P và Cà Văn T1 (áp dụng thêm khoản 5 Điều 251 và điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cà Văn H; áp dụng thêm Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cà Văn T1).
- - Xử phạt bị cáo Cà Văn H từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù. Phạt tiền bị cáo Cà Văn H 10.000.000đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù.
- - Xử phạt bị cáo Cà Văn T1 từ 06 năm 09 tháng đến 07 năm 03 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Lò Văn P và Cà Văn T1.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 dao lam, 01 cân tiểu ly, 02 tờ giấy trắng kích thước 04x04cm; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn T1 trình bày quan điểm bào chữa: Người bào chữa nhất trí với tội danh và điều luật mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo Cà Văn T1. Bị cáo lần đầu phạm tội, là người dân tộc thiểu số, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn bị cáo phải nghỉ học sớm theo mẹ đi làm việc để có thêm thu nhập nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo lại bị rủ rê lôi kéo khi phạm tội, bố mẹ bị cáo hiện sống ly thân nên bị cáo không được sự chăm sóc, giáo dục đầy đủ của gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Bản kết luận giám định số 480/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K Công an thành phố H và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 03 đến tháng 04/2024, tại thôn H, xã H, huyện A thành phố Hải Phòng, Cà Văn H, Lò Văn P, Cà Văn T1 đã cùng nhau bàn bạc mua ma tuý về chia nhỏ để bán kiếm lời, cụ thể H bỏ tiền mua ma túy, sau đó cùng P và T1 chia thành các gói nhỏ, khi có khách hỏi mua ma túy thì T1 là người trực tiếp bán ma túy cho khách, H trả công cho P và T1 bằng việc cho P và T1 ma túy sử dụng hàng ngày và cho tiền chi tiêu. Khoảng 12 giờ ngày 17/4/2024 T1 bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,06gam. Ngoài ra các bị cáo còn tàng trữ trái phép ma túy loại Heroine khối lượng 15,63 gam với mục đích để bán kiếm lời, tổng khối lượng ma túy H, P, T1 bán và cất giữ để bán trái phép là 15,69 gam loại Heroine. Hành vi của các bị cáo cùng bàn bạc mua, bán trái phép ma túy loại Heroine để kiếm lời đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Khối lượng ma túy các bị cáo bán và tàng trữ trái phép để bán kiếm lời là 15,69gam loại Heroin nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nên cần xét xử nghiêm để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về vai trò; tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
[4.1] Trong vụ án này, các bị cáo có sự bàn bạc với nhau, phân công nhiệm vụ từ trước, trong đó bị cáo H là người đề xuất, bỏ tiền mua ma túy, phân công nhiệm vụ cho các bị cáo khác thực hiện và trực tiếp trả công cho các bị cáo khác nên đánh giá vai trò của bị cáo Hoàng C nhất trong vụ án. Bị cáo P là người giúp H chia nhỏ ma túy để đóng thành các gói nhỏ, bị cáo T1 là người trực tiếp bán ma túy cho khách nên đánh giá vài trò của bị cáo P và bị cáo T1 ngang nhau và sau bị cáo H.
[4.2] Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 khi phạm tội 17 tuổi 6 tháng 14 ngày do đó bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo P và T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo T1 khi phạm tội mới 17 tuổi 6 tháng 14 ngày nên áp dụng Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo T1. Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét tính chất hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo nên phạt tiền bị cáo H trên mức khởi điểm của khung hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo P. Theo quy định của pháp luật bị cáo T1 là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T1.
[6] Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 dao lam, 01 cân tiểu ly, 02 tờ giấy trắng kích thước 04x04cm liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 2.200.000đồng tiền các bị cáo bán ma túy mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax là tài sản của bị cáo H nhưng bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo T1 và người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Cà Văn H, Lò Văn P và Cà Văn T1 (căn cứ thêm khoản 5 Điều 251 và điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cà Văn H; căn cứ thêm Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cà Văn T1).
Tuyên bố các bị cáo Cà Văn H, Lò Văn P và Cà Văn T1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Cà Văn H 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Phạt tiền bị cáo Cà Văn H 10.000.000 đồng để thu vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Lò Văn P 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Cà Văn T1 07 (Bảy) năm tù.
Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2024.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 dao lam, 01 cân tiểu ly, 02 tờ giấy trắng kích thước 04x04cm; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024 và số tiền 2.200.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0006880 ngày tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Cà Văn H, Lò Văn P và Cà Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Cà Văn T1 có quyền kháng cáo bản án, Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của bị cáo Cà Văn T1 trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
6 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 185/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 185/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cà Văn Hoàng
