|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 185/2024/DS-ST Ngày: 19-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Phước Trinh
- Bà Phạm Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 489/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 103/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ
Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Số C, đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền Ông Phạm Ngọc C, chức vụ: Giám đốc chi nhánh Đ1 - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ. (Theo Quyết định số 163/QĐ-DAB-HĐQT-PC ngày 08/8/2022 của Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ)
Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Phạm Nhật U, chức vụ: Nhân viên quản lý tín dụng. (Theo Quyết định số 037/QĐ-ĐHG ngày 08/8/2023 của Giám đốc– Chi nhánh Đ1 - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ). (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1968
Địa chỉ: Tổ F, ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 29 tháng 8 năm 2023, lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - có người đại diện theo ủy quyền lại là bà Phạm Nhật U trình bày:
Ngày 25/12/2019, ông Lê Văn L cùng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ ký Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số 00485748/0135879901T19004 để vay tiền. Số tiền ông L vay là 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng), thời hạn vay 36 tháng; mục đích vay tiêu dùng; lãi suất cho vay: Lãi suất tính trên dư nợ ban đầu trong hạn là 7,5%/năm, tương đương lãi suất cho vay tính trên dư nợ thực tế là 14,59%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Việc nhận tiền của ông L qua hình thức chuyển khoản.
Ngày 25/12/2019, tại Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ ông L có ký nhận thẻ có số tài khoản 0101084678, số tiền vay là 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng). Sau khi vay, hàng tháng ông L vẫn trả tiền gốc và lãi suất, tổng cộng ông L trả được gốc và lãi là 59.750.000đ (Năm mươi chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Nhưng đến ngày 25/02/2022, ông L không còn sử dụng thẻ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ để chuyển lương nên Ngân hàng không còn thu hồi được tiền nợ của ông L nữa. Do ông L chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng đúng thời hạn, nên Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở việc trả nợ nhưng ông L không thực hiện mà còn né tránh. Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn L thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ còn lại cụ thể tính từ ngày 25/02/2022 đến ngày 19/4/2024: Nợ gốc là 24.439.189đ (Hai mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn một trăm tám mươi chín đồng); lãi trong hạn 1.560.811đ (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn tám trăm mười một đồng), lãi quá hạn 4.760.085₫ (Bốn triệu bảy trăm sáu mươi nghìn không trăm tám mươi lăm đồng).
Do khi ông L vay không có vợ của ông L đứng vay chung nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông L có trách nhiệm trả tiền mà không yêu cầu vợ ông L có nghĩa vụ liên đới trả tiên.
- Bị đơn ông Lê Văn L đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, giấy triệu tập đương sự mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát huyện C phát biểu quan điểm đối với vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông L có ký Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số 00485748/0135879901T19004 với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ với số tiền 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng). Sau đó ông L đã trả được số tiền gốc là 59.750.000đ (Năm mươi chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Tuy nhiên ông L vẫn còn nợ Ngân hàng tạm tính từ ngày 25/02/2022 đến ngày 19/4/2024 gồm có: Nợ gốc là 24.439.189đ (Hai mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn một trăm tám mươi chín đồng); lãi trong hạn 1.560.811đ (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn tám trăm mười một đồng), lãi quá hạn 4.760.085₫ (Bốn triệu bảy trăm sáu mươi nghìn không trăm tám mươi lăm đồng), tổng cộng 30.760.085₫ (Ba mươi triệu bảy trăm sáu mươi nghìn không trăm tám mươi lăm đồng). Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 90, 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 29/8/2023, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết buộc ông Lê Văn L trả số tiền gốc và lãi suất đã vay theo “Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số 00485748/0135879901T19004”, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự vay tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Lê Văn L có nơi cư trú tại Tổ F, ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Văn L đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa nhưng tại phiên toà hôm nay vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ yêu cầu ông Lê Văn L phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền ông L còn nợ tính từ ngày 25/02/2022 đến ngày 19/4/2024: Nợ gốc là 24.439.189₫ (Hai mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn một trăm tám mươi chín đồng); lãi trong hạn 1.560.811đ (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn tám trăm mười một đồng), lãi quá hạn 4.760.085₫ (Bốn triệu bảy trăm sáu mươi nghìn không trăm tám mươi lăm đồng), tổng cộng 30.760.085₫ (Ba mươi triệu bảy trăm sáu mươi nghìn không trăm tám mươi lăm đồng). Ngoài ra, ông L còn phải chịu tiền lãi phát sinh kể từ sau ngày 19/4/2024 cho đến khi trả hết tiền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, cách thức thanh toán trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Ngày 25/12/2019, ông Lê Văn L có ký Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số: 00485748/0135879901T19004 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ với số tiền vay là 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng). Các đương sự cũng thỏa thuận mức lãi suất phát sinh. Khi ký hợp đồng tín dụng nêu trên, các bên hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đông phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động cho vay. Ngày 25/12/2019 tại Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ ông L có ký nhận thẻ có số tài khoản 0101084678, số tiền vay là 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng), ông L là chủ tài khoản thẻ số 0101084678 có ký xác nhận số tiền vay 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng). Như vậy, ông L đã nhận đủ số tiền vay từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Xét thấy, trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông L đã trả được cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tổng cộng gốc và lãi là 59.750.000đ (Năm mươi chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đông), sau đó ông L đã không trả tiền cho Ngân hàng trong khoảng thời gian dài kể từ ngày 25/02/2022 cho đến ngày 19/4/2024. Như vậy, ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên vay theo thỏa thuận tại Điều 7 quyền và nghĩa vụ của bên vay trong phần điều khoản và điều kiện cấp tín dụng theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số: 00485748/0135879901T19004 ngày 25/12/2019 mà ông L đã ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ. Việc ông L chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 3, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, 8, 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ nên bị đơn ông Lê Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm 1.538.004đ (Một triệu năm trăm ba mươi tám nghìn không trăm lẻ bốn đồng) theo quy định là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 466 và điểm c, d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, buộc ông Lê Văn L có trách nhiệm phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền gốc 24.439.189₫ (Hai mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn một trăm tám mươi chín đồng); lãi trong hạn 1.560.811đ (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn tám trăm mười một đồng), lãi quá hạn 4.760.085₫ (Bốn triệu bảy trăm sáu mươi nghìn không trăm tám mươi lăm đồng), tổng cộng 30.760.085₫ (Ba mươi triệu bảy trăm sáu mươi nghìn không trăm tám mươi lăm đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông L còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số: 00485748/0135879901T19004 ngày 25/12/2019. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất
cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.538.004đ (Một triệu năm trăm ba mươi tám nghìn không trăm lẻ bốn đồng) buộc ông L phải chịu.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 724.748₫ (Bảy trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm bốn mươi tám đồng) theo biên lai số 0018327 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.
3. Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Túy Phượng |
Bản án số 185/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 185/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
