|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 185/2024/HS-ST
Ngày: 17-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Vân
Ông Trịnh Xuân Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Cẩm Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 170/2024/HSST ngày 19/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/QĐXXST – HS ngày 20/8/2024 và thông báo về việc thay đổi thời gian mở lại phiên toà số 973/TB ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Bố: Nguyễn Văn L, sinh năm 1965; Mẹ: Nguyễn Thị Á, sinh năm 1967; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1990; Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2015/HS-ST ngày 26/3/2015 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội đánh bạc; số tiền dùng đánh bạc là 3.850.000 đồng; đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
- + Ngày 09/3/2023 bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ C2 khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam T16 Bộ C2 trong vụ án khác và có mặt tại phiên toà.
* Bị hại:
- Anh Mỵ Duy C, sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu tập thể T, tổ dân phố C, phường C, quận B, thành phố Hà Nội
Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an thành phố H và có đơn xin xét xử vắng mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Huy H1, sinh năm 1987
- Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1990
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965
- Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1967
- Anh Đỗ Hồng B, sinh năm 1981
- Chị Trịnh Thùy C1, sinh năm 1991
- Chị Tạ Thị L1, sinh năm 2006
Địa chỉ: Số B, dãy B, khu tập thể Y, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà D, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà D, đường N, phường P, quận T, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh
* Người làm chứng:
Anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1990
Địa chỉ: Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng
(Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối năm 2020, Nguyễn Văn H, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang có quen biết anh Mỵ Duy C, sinh năm 1987, trú tại khu tập thể T, tổ dân phố C, phường C, quận B, thành phố Hà Nội làm nghề kinh doanh bán hàng trên mạng xã hội. Tháng 3/2022, anh C có kinh doanh đồ chơi trẻ em. Trước đó, H đã giúp tìm nguồn hàng nên anh C tin tưởng và tiếp tục nhờ.
Ngày 23/3/2022, anh C đến nhà anh Hoàng Huy H1, sinh năm 1987, trú tại số B, dãy B8, khu tập thể Y, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Fortuner màu đen, biển kiểm soát 35A-003.81 với giá 600.000đ/ngày mục đích để giao cho Nguyễn Văn H sử dụng làm phương tiện giúp đi tìm nguồn hàng. Anh Hoàng Huy H1 mua lại chiếc xe trên của anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1990, trú tại Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng làm kinh doanh mua bán xe ô tô cũ; đăng ký xe mang tên Đỗ Thiên V, địa chỉ: Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Do anh Hoàng Huy H1 và anh Mỵ Duy C quen biết nhau nên hai người không làm hợp đồng thuê xe.
Khoảng 16 giờ ngày 24/3/2022, anh C và Nguyễn Văn H hẹn gặp nhau tại khu vực gầm cầu vượt cao tốc thuộc xã D, thành phố B. Tại đây, anh C giao cho Nguyễn Văn H chiếc xe ô tô nhãn hiệu Fortuner biển kiểm soát 35A-003.81 để H sử dụng làm phương tiện đi giúp tìm nguồn hàng và thỏa thuận 15 ngày sau phải trả lại xe. Sau khi giao xe xong, anh C thuê xe taxi đi về Hà Nội. Sau khi được anh C giao cho xe ô tô, H nảy sinh ý định đem đi cầm cố chiếc xe ô tô Fortuner biển kiểm soát 35A-003.81 để vay tiền. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H điều khiển xe ô tô đến cửa hàng cầm đồ của anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1990 ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. H nói với anh T1 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Fortuner biển kiểm soát 35A – 003.81 là của H mua của người khác nhưng chưa sang tên, do cần tiền lo công việc nên muốn cầm cố xe. Anh T1 nói không nhận cầm cố mà chỉ mua xe thì H đồng ý bán, thỏa thuận trong thời hạn 5-10 ngày thì có thể chuộc lại nhưng phải trả lãi 5.000.000 đồng. H bán chiếc xe ô tô này cho anh T1 với giá 345.000.000 đồng. Anh T1 chuyển khoản trả cho H số tiền trên. Theo H khai sử dụng chi tiêu cá nhân và đánh bạc trên mạng. Do không có tiền chuộc xe nên H đã đi về nhà nói chuyện với ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Á (là bố và mẹ H) về việc cắm xe ô tô và nhờ giúp chuộc lại. Vợ chồng ông L đã đi vay và đưa cho H 400.000.000 đồng để chuộc xe. HùngTôi đã trả cho anh T1 348.500.000 đồng trong đó trả lãi 3.500.000 đồng và chuộc lại xe ô tô.
Đến ngày 26/3/2022, Nguyễn Văn H lại mang xe ô tô Fortuner biển kiểm soát 35A – 003.81 đến bán cho anh Nguyễn Văn T2 và thỏa thuận vẫn như lần đầu. Sau khi H viết giấy bán xe, đưa giấy tờ xe cùng giấy bán xe thì anh T2 chuyển khoản trả cho H số tiền 345.000.000 đồng. Theo H khai đã sử dụng chi tiêu cá nhân, đánh bạc trên mạng và thua hết.
Khi đến hạn giao xe ô tô, anh C gọi điện cho H yêu cầu trả lại xe ô tô thì H thừa nhận đã mang xe ô tô trên đi cầm cố vay tiền. Do không có tiền chuộc xe nên H đi ra Hà Nội làm tự do. Ngày 10/8/2023, H bị Cơ quan CSĐT Bộ C2 bắt tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Kết luận định giá tài sản số 96A ngày 02/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
Xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 35A-003.81, màu sơn đen, máy xăng, loại 7 chỗ, số khung 9013152, số máy 7147433, sản xuất năm 2011, đã qua sử dụng có giá trị thời điểm tháng 3/2022 là 370.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 171/CT-VKS ngày 13/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường được một phần thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Huy H1. Hiện nay, do bị cáo đang bị tạm giam nên chưa có điều kiện để bồi thường số tiền còn thiếu cho anh Hoàng Huy H1, tuy nhiên anh C đồng ý bồi thường thay số tiền còn lại cho bị cáo thì bị cáo nhất trí. Sau này có điều kiện thì bị cáo sẽ thu xếp trả anh C sau.
Bị hại anh Mỵ Duy C có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại văn bản ý kiến trình bầy gửi Toà án, anh đồng ý trả cho anh Hoàng Huy H1 số tiền còn thiếu 65.000.000 đồng (theo kết quả định giá) thay cho bị cáo H1.
Bị hạị và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về việc xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Tại phiên tòa bị hại (có đơn xin xét xử vắng mặt) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử do họ đã có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị hại, người liên quan, người làm chứng là có căn cứ.
[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/3/2022, anh Mỵ Duy C có hợp đồng thuê của anh Hoàng Huy H1, trú tại số B, dãy B8, khu tập thể Y, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Fortuner màu đen, biển kiểm soát 35A-003.81 trị giá 370.000.000 đồng.
Ngày 24/3/2022, anh C đi xe ô tô nhãn hiệu Fortuner biển kiểm soát 35A-003.81 đến khu vực gầm cầu vượt cao tốc thuộc xã D, thành phố B rồi giao cho Nguyễn Văn H chiếc xe ô tô trên mục đích để H sử dụng làm phương tiện đi giúp anh C tìm nguồn hàng kinh doanh online và thỏa thuận 15 ngày sau phải trả lại xe. Sau đó, H đã bán chiếc xe ô tô này cho anh Nguyễn Hữu T1 ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang với giá 345.000.000 đồng sử dụng chi tiêu và đánh bạc trên mạng xã hội dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo được anh C tin tưởng giao xe có trị giá 370.000.000 đồng để đi tìm nguồn hàng và thoả thuận trả lại xe sau 15 ngày nhưng sau đó bị cáo đem bán xe lấy tiền chơi cờ bạc trên mạng dẫn tới không có khả năng trả lại xe. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội “Đánh bạc” năm 2015 và hiện đang bị khởi tố, tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo đã tác động người nhà bồi thường khắc phục hậu quả cho người liên quan. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo.
[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo đã từng bị xét xử hình sự nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
Do bị cáo không có tài sản riêng, không có công ăn việc làm và hiện đang tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Anh Mỵ Duy C đồng ý bồi thường số tiền 65.000.000 đồng cho anh Hoàng Huy H1 thay cho bị cáo H1 nên cần áp dụng Điều 370; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự để buộc anh C bồi thường cho anh Hoàng Huy H1 số tiền 65.000.000 đồng là có căn cứ.
Đối với bị hại anh Mỵ Duy C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trịnh Thùy C1 không yêu cầu bị cáo H1 phải trả lại số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo nên HĐXX không xem xét trong vụ án này.
[11] Đối với anh Nguyễn Hữu T1 mua chiếc xe ô tô Toyota Fortuner, biển kiểm soát 35A – 003.81 do Nguyễn Văn H mang đến bán; anh Đỗ Hồng B mua lại chiếc xe từ anh T1 rồi bán lại cho người không quen biết. Những người nêu trên không biết chiếc xe ô tô trên là H tự ý mang của người khác đi bán. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với Nguyễn Văn H khai đánh bạc trên mạng nhưng không nhớ được tài khoản, mật khẩu truy cập; số tài khoản “1023569891” mang tên “Nguyen Van T3” theo H khai chuyển tiền để đánh bạc trên mạng. Ngân hàng N có văn bản cung cấp thông tin cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B xác định số tài khoản trên do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quản lý, lưu giữ. Do vậy, Cơ quan điều tra quyết định tách hành vi nêu trên của Nguyễn Văn H để tiếp tục xác minh, xử lý theo pháp luật.
[12] Ngoài ra cần áp dụng Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, anh Mỵ Duy C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 8 (tám) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
-Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 370; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc anh Mỵ Duy C bồi thường cho anh Hoàng Huy H1 số tiền 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng).
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo H1 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm; buộc anh Mỵ Duy C phải chịu 3.250.000 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Thị Thanh Quyên |
Bản án số 185/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 185/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
