Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/DS-ST

Ngày: 17-07-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đặng Anh Đoan
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 236/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 181/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ A ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt;
  2. Bị đơn:
    1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1964; địa chỉ: số B tổ A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang;
    2. Bà Trần Thị T, sinh năm 1964; địa chỉ: số B tổ A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang;
    3. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1989; địa chỉ: số B tổ A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang;
    4. Ông Trần Văn G, sinh năm 1991; địa chỉ: số B tổ A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Do quen biết nên bà H có cho gia đình ông Đ, bà T, ông T1, ông G vay số tiền là 800.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 05 năm, mục đích vay có vốn làm kinh tế cho gia đình, khi vay ông Đ, bà T, ông T1, ông Giàu c làm biên nhận nợ ngày 25/03/2011, quá trình vay phía bị đơn trả lãi được 22 tháng thì ngừng trả vốn và lãi mặc dù H có yêu cầu. Vì vậy, bà Nguyễn Thị Bé H yêu cầu ông Trần Văn Đ, Trần Thị T, Trần Văn T1, Trần Văn Giàu c1 trách nhiệm liên đới trả tiền vốn 800.000.000 đồng, lãi tính từ ngày 25/3/2016 cho đến ngày xét xử theo mức lãi suất quy định của pháp luật.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Giấy cho vay tiền ngày 25/3/2011, có chữ ký người vay Đúp, T, T1, G (bản pho to).

Bị đơn: ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn G đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Toà án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé H yêu cầu bị đơn trả vốn vay là 800.000.000 đồng, đối với phần lãi phát sinh bà H xin rút yêu cầu tính lãi và xác định không còn tài liệu chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

Bị đơn ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn G vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463; 466; 288 Bộ luật dân sự năm 2015; Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé H về việc yêu cầu ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn G trả nợ lãi của số nợ gốc 800.000.000 đồng theo quy định pháp luật từ ngày 25/3/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé H đối với ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn G.

Buộc ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn Giàu c1 trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Bé H số nợ vay 800.000.000 (Tám trăm triệu) đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn về hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; và bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện P. Nên, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên toà được mở, bị đơn ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn G đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn G theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn cho rằng, gia đình ông Đ gồm: ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn Giàu c1 vay của bà Nguyễn Thị Bé H số tiền 800.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 05 năm, mục đích vay làm kinh tế và cố đất để canh tác, có điều kiện cho con vào biên chế ngành Công an, trong quá trình thực hiện hợp đồng phía bị đơn trả lãi 22 tháng thì ngừng trả cho đến nay, mặc dù, bà H đã nhiều lần yêu cầu trả nợ.

Lời khai này của bà H phù hợp với nội dung giấy cho vay tiền có chữ ký tên của ông Đ, bà T, ông T1, ông G.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có ban hành thông báo số: 130/TB-TA ngày 05/6/2024 yêu cầu ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn G cung cấp lời khai và giao nộp, bổ sung tài liệu, chứng cứ đối với nội dung sự việc yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn G không thực hiện.

Vì vậy, có căn cứ xác định, ông Đ, bà T, T1, Giàu có vay của bà H số tiền 800.000.000 đồng, thời hạn vay 05 năm, thỏa thuận lãi suất 1%/tháng và chưa thanh toán nợ.

[2.2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện, bà H yêu cầu ông Đ, bà T, ông T1, ông Giàu có trách nhiệm liên đới trả cho bà H nợ gốc 800.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày 25/3/2016 đến khi xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà H rút lại yêu cầu trả lãi của số nợ gốc theo quy định pháp luật từ ngày 25/3/2016 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu trả nợ lãi theo quy định pháp luật từ ngày 25/3/2016 cho đến ngày xét xử theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy, hợp đồng vay tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Do ông Đ, bà T, T1 và G vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nên bà H khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà T, T1 và G cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ gốc là phù hợp với quy định tại các Điều 466; 288 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, buộc ông Đ, bà T, ông T1 và ông Giàu có trách nhiệm liên đới trả cho bà H nợ vay 800.000.000 đồng

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đ, bà T, ông T1, ông G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho bà H là 36.000.000 đồng. Hoàn trả 20.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí cho bà H theo biên lai thu số 0006517 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 227; Điều 244; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463; 466; 288 Bộ luật dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé H về việc yêu cầu ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn G trả nợ lãi của số nợ gốc 800.000.000 đồng theo quy định pháp luật từ ngày 25/3/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé H đối với ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn G.

    Buộc ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn Giàu c1 trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Bé H số nợ vay 800.000.000 (Tám trăm triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn G phải chịu 36.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Bé H số tiền tạm ứng án phí 20.000.000 đồng mà bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án TU/2022/0006517 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

  4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng được sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 185/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger