|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 185/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14/06/2024
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hà Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan
Ông Trần Văn Chánh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 05 năm 2024, quyết định hoãn phiên toà số 205/2024/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị C, sinh năm 1957.
Nơi cư trú: 168B, tổ D, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Có mặt)
- Bị đơn: Ông Đinh Trung D, sinh năm 1954.
Nơi cư trú: 168B, tổ D, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 12 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị C trình bày : bà và ông Đinh Trung D xây dựng gia đình vào năm 1983 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/01/1983 tại UBND xã P, tỉnh Đồng Nai.
Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống trong sinh hoạt gia đình, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nay bà xin được ly hôn với ông D để trả tự do cho nhau.
Về con chung: có 03 con chung tên:
- Đinh Thị Thùy D1, sinh năm 1984 (đã trưởng thành).
- Đinh Thị Thùy V, sinh năm 1989 (đã trưởng thành).
- Đinh Viết V1, sinh năm 1992 (đã trưởng thành).
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, không có lời khai nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Vũ Thị C.
Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Tài sản chung, nợ chung: Giải quyết bằng vụ kiện khác khi các bên có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Vũ Thị C xin ly hôn ông Đinh Trung D, theo biên bản xác minh tại Công an phường P ngày 04/04/2024 ông D là bị đơn không có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ A, tổ D, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhưng có sinh sống tại địa chỉ trên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Ông Đinh Trung D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Bà Vũ Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207, Điều 208; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiến hành đưa vụ án xét xử theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông D xây dựng gia đình với nhau vào năm 1983, có đăng ký kết hôn vào ngày 19/01/1983 tại UBND xã P, tỉnh Đồng Nai nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống trong sinh hoạt gia đình, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Bà C có đơn yêu cầu được ly hôn ông D.
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết địa phương không xác định được tình hình mâu thuẫn giữa bà C và ông D. Tuy nhiên, qua các buổi làm việc tại Tòa, nguyên đơn bà C xác định ông D có mối quan hệ trai gái bên ngoài và ông D không chăm lo cho cuộc sống gia đình, bị đơn là ông D cũng đã xác nhận ông có mối quan hệ trai gái bên ngoài chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà C và ông D là có thật. Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng bà C, ông D có kéo dài cũng không đem đến hạnh phúc, ông D không có biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt; Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của bà C, cho bà C được ly hôn với ông D.
[3] Về con chung: Bà C và ông D có 03 con chung tên:
- Đinh Thị Thùy D1, sinh năm 1984
- Đinh Thị Thùy V, sinh năm 1989
- Đinh Viết V1, sinh năm 1992.
Con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Các bên thống nhất tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về nợ chung: Các bên khai không có nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bà Vũ Thị C thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 207, Điều 208; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị C, xử cho bà Vũ Thị C được ly hôn ông Đinh Trung D.
- Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Không xem xét.
- Về nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Bà Vũ Thị C thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Về quyền kháng cáo: Bà Vũ Thị C, ông Đinh Trung D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Hà Vân |
Bản án số 185/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 185/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Vũ Thị Cảnh - Đinh Trung Dũng
