Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/HSST

Ngày: 12/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Thương.
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Kim Xuyến
  • 2. Ông Hoài Đức Huệ
  • Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Phương Thảo – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 202/2024/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Lê Văn S
Giới tính: Nam
Tên gọi khác: không
Sinh năm 1985 tại tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã P, huyện N, Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: Lớp 9/12 - Nghề nghiệp: kinh doanh
Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không có.
Họ tên cha: Lê Văn P - Sinh năm 1959 (còn sống).
Họ tên mẹ: Trần Thị N - Sinh năm 1960 (còn sống).
Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Bị cáo có vợ là Võ Thị Bé H, sinh năm 1993 và có 02 con (lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020).
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt giữ ngày 28/4/2024, sau đó chuyển giam. Đến ngày 19/7/2024 được hủy bỏ tạm giam, hiện đang áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2024 đến ngày 7/8/2024

2.Họ và tên: Nguyễn Văn P1 -Giới tính: Nam
Tên gọi khác: không
Sinh năm 1997 tại tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã P, huyện N, Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: Lớp 9/12 - Nghề nghiệp: không
Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không có.
Họ tên cha: Nguyễn Văn V (chết)
Họ tên mẹ: Trần Thị Kim V1, sinh năm 1969 (còn sống).
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Bị cáo có vợ là Trần Thị Kim N1 (đã ly hôn) và chưa có con
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt giữ ngày 28/4/2024 sau đó chuyển giam. Đến ngày 19/7/2024 được hủy bỏ tạm giam.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn S là chủ cơ sở “Massage A" tại ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Từ tháng 9/2023 đến đầu tháng 4/2024 S thuê Nguyễn Văn P1 làm quản lý và 05 người làm nhân viên nữ Massage gồm: Hồng Mộng C, Huỳnh Thị Cẩm L, Thạch Thị H1, Châu Bích T, Hồ Thị Trinh T1. S quy định, khi khách vào mua vé massage thì 300.000 đồng/người/lượt/60 phút, còn tiên boa thì khách và nhân viên massage tự thỏa thuận với nhau; nếu khách có nhu cầu mua dâm thì boa cho nhân viên là 500.000 đồng, nếu kích dục là 300.000 đồng. Nhân viên sẽ được hưởng trọn tiền boa của khách, S lấy tiền vé; hàng ngày mỗi nhân viên phải đóng tiền sinh hoạt, ăn uống cho S 100.000 đồng/ngày/nhân viên.

Vào lúc 22 giờ 45 phút ngày 27/4/2024, Trần Quang V2 sinh năm 1999, Đặng Quốc H2 sinh năm 2005, Trương Quốc D sinh năm 2004 đến massage. V2 người đại diện đứng ra trả tiền vé, tiền boa là 2.400.000 đồng và cho P1 100.000 đồng. Sau đó, P1 phân công Cầm bán dâm cho H2 tại phòng số 1 và L bán dâm cho D tại phòng số 3, còn H1 massage kích dục cho V2 tại phòng số 8. Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày, Công an huyện N tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Quá trình chứa mại dâm S đã thu lợi bất chính được số tiền 900.000 đồng.

Tình tiết tăng nặng: không có

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã đóng tiền khắc phục hậu quả, gia đình bị cáo S có cha có công với cách mạng; có mẹ là thương binh, gia đình bị cáo S có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

*Vật chứng thu giữ:

  • - 2.500.000 đồng
  • - 02 bao cao su đã qua sử dụng
  • - 05 bao cao su chưa sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A92 của Nguyễn Văn P1

*Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên:

  • - Buộc bị cáo S nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 900.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước (các bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0007428 của chi cục thi hành án huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai ngày 12/8/2024).
  • - Tịch thu số tiền 2.500.000 là do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước
  • - Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Oppo A92 của Nguyễn Văn P1 dùng vào việc phạm tội
  • - Tịch thu tiêu hủy 07 bao cao su

Tại Bản cáo trạng số 204/CT-VKSNT ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo về tội “chứa mại dâm” theo khoản 1 điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 điều 327, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 58, điều 65, Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo S mức án từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, xử phạt bị cáo P1 mức án từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

*Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên:

  • - Buộc bị cáo S nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 900.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước (các bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0007428 của chi cục thi hành án huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai ngày 12/8/2024).
  • - Tịch thu số tiền 2.500.000 là do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước
  • - Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Oppo A92 của Nguyễn Văn P1 dùng vào việc phạm tội
  • - Tịch thu tiêu hủy 07 bao cao su

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Vào lúc 22 giờ 45 phút ngày 27/4/2024, Trần Quang V2 sinh năm 1999, Đặng Quốc H2 sinh năm 2005, Trương Quốc D sinh năm 2004 đến massage. V2 người đại diện đứng ra trả tiền vé, tiền boa là 2.400.000 đồng và cho P1 100.000 đồng. Sau đó, P1 phân công Cầm bán dâm cho H2 tại phòng số 1 và L bán dâm cho D tại phòng số 3, còn H1 massage kích dục cho V2 tại phòng số 8. Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày, Công an huyện N tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Quá trình chứa mại dâm S đã thu lợi bất chính được số tiền 900.000 đồng.

Vụ án có tính đồng phạm giản đơn bị cáo S rủ rê bị cáo P1 phạm tội thì được bị cáo P1 đồng ý giúp sức nên mức án bị cáo S cao hơn bị cáo P1.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Trong vụ án các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã đóng tiền khắc phục hậu quả, gia đình bị cáo S có cha có công với cách mạng; có mẹ là thương binh, có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, cáo có nơi cư trú rõ ràng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho các bị cáo được hưởng án treo không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

  • - Buộc bị cáo S nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 900.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước (các bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0007428 của chi cục thi hành án huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai ngày 12/8/2024).
  • - Tịch thu số tiền 2.500.000 là do bị can thực hiện hành vi phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước
  • - Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Oppo A92 của Nguyễn Văn P1 dùng vào việc phạm tội
  • - Tịch thu tiêu hủy 07 bao cao su

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ Điều 2 Nghị quyết 02/2018 ngày 15/5/2018 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao.

Áp dụng khoản 5 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022.

Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 58 điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn S phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn S mức án 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày tuyên án 12/8/2024 và bị cáo thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 58 điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P1 phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P1 mức án 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án 12/8/2024 và bị cáo thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Giao các bị cáo S, L1 về Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 về pháp Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại giam huyện Nhơn Trạch;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Thị Thu Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/HSST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI về chứa mại dâm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 185/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 22 giờ 45 phút ngày 27/4/2024, Trần Quang Vinh sinh năm 1999, Đặng Quốc Huy sinh năm 2005, Trương Quốc Duy sinh năm 2004 đến massage. Vinh người đại diện đứng ra trả tiền vé, tiền boa là 2.400.000 đồng và cho Phong 100.000 đồng. Sau đó, Phong phân công Cầm bán dâm cho Huy tại phòng số 1 và Ly bán dâm cho Duy tại phòng số 3, còn Hương massage kích dục cho Vinh tại phòng số 8. Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày, Công an huyện Nhơn Trạch tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Quá trình chứa mại dâm Sơn đã thu lợi bất chính được số tiền 900.000 đồng. Vụ án có tính đồng phạm giản đơn bị cáo Sơn rủ rê bị cáo Phong phạm tội thì được bị cáo Phong đồng ý giúp sức nên mức án bị cáo Sơn cao hơn bị cáo Phong.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger